Bản án số: 09/2022/KDTM-PT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Bản án số: 09/2022/KDTM-PT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 08/2016/AL
Ngày thông qua 2020-07-02
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Kinh doanh Thương mại
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

Bản án số: 09/2022/KDTM-PT

Ngày 11 tháng 5 năm 2022

V/v.Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập –Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Hải Hiệp;

Các thẩm phán: Ông Hồ Đình Trung;

Ông Điều Văn Hằng.

  • Thư K Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư K Tòa

án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao t ại Hà N ội tham gia phiên

tòa: Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên cao cấp.

Trong ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà

Nội xét x ử phúc th ẩm công khai vụ án kinh doanh, thương m ại thụ lý s ố

25/2020/TLPT-KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

Do Bản án kinh doanh, thương m ại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày

11 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh P bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5073/2022/QĐ-PT ngày 18 tháng

4 năm 2022 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng N Việt Nam; Trụ sở: Số 2, Láng Hạ, phường T,

quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bút K – Giám

đốc Phòng giao dịch D – AK Chi nhánh P II; Địa chỉ: Đường Trần Phú, phường

D, thành phố V, tỉnh P (theo Văn bản ủy quyền số 410 ngày 02/7/2020). Có mặt

tại phiên tòa.

  • Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; Địa chỉ: Tổ 2, phố Phong Châu, phư ờng

Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P. Vắng mặt.

  • Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Th ị Th; Địa chỉ: Phố Phong Châu, phường Bạch Hạc, thành phố

V, tỉnh P. Vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; Địa chỉ: Phố Đòan Kết, phường Bạch

Hạc, thành phố V, tỉnh P. Vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị H TA, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ 2, Phong Châu, Bạch

Hạc, thành phố V, tỉnh P. Vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; hiện đã lấy cH ở Hải Dương và đã đi

lao động tại Đài Loan.

5. Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu 2, Minh Tân, Minh

Nông, thành phố V, tỉnh P. Vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

6. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 ; Địa chỉ: Mộ Hạ, tổ 17, Bạch Hạc,

thành phố V, tỉnh P. Vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các b ản tự khai, nguyên đơn là Ngân hàng N Việt

Nam (viết tắt là AK) trình bày:

Anh Nguyễn Văn T được AK chi nhánh Gia C ẩm, P – Phòng giao dịch D

(nay là AK – Chi nhánh P II) cho vay s ố tiền 1.320.000.000 đồng để thanh tóan

công nợ mua sà lan máy và sửa chữa tàu sau khắc phục chìm đắm theo Hợp đồng

tín d ụng s ố 2707LAV200800492 ngày 31/10/2004 và Hợp đ ồng tín d ụng s ố

2707LAV200800884 ngày 18/7/2008. Đến ngày 24/5/2019 anh T còn nợ AK chi

nhánh P II – Phòng giao d ịch D số tiền là 1.687.751.612 đồng (gồm nợ gốc là

548.300.000 đồng, nợ lãi là 1.139.451.612 đồng). Tài sản đảm bảo cho khỏan vay

là nhà xây c ấp 4 và công trình ph ụ trợ kèm theo g ắn liền trên đ ất, diện tích đ ất

171,1m2 thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 03 tại địa chỉ phố Phong Châu, phư ờng

Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số AD 257468 ngày 27/01/2006 mang tên ông Nguy ễn Văn

Tính và bà Lê Thị Th; giá trị tài sản thế chấp 300.000.000 đồng; phạm vi bảo đảm:

200.000.000 đồng (theo Hợp đồng thế chấp số 182/02/2007 ngày 26/10/2007) .

Trong quá trình vay v ốn, anh T kinh doanh thua l ỗ, vi phạm hợp đồng tín dụng,

không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng đề nghị Tòa án: Buộc

anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho AK – Chi nhánh P II,

tổng số tiền là: 1.687.751.612 đồng, trong đó tiền nợ gốc quá hạn là 548.300.000

đồng; nợ lãi tạm tính là 1.139.451.612 đồng (tính đến ngày 24/5/2019). Tại bản

tự khai ngày 27/12/2019, đại diện Ngân hàng xác định tính đến ngày 27/12/2019

anh T còn nợ là 1.705.612.417 đồng, trong đó nợ gốc là 548.300.000 đồng, nợ lãi

là 1.157.312.417 đồng.

Nếu anh T không trả được thì buộc ông Nguyễn Văn Tính và bà Lê Thị Th

phải thực hiện trả nợ thay theo ph ạm vi b ảo đảm trong H ợp đồng thế chấp số

182/02/2007 ngày 26/10/2007. N ếu ông Tính và bà Th không trả nợ được thì đề

nghị Tòa án buộc ông Tính, bà Th giao lại tài sản để Ngân hàng xử lý tài sản bảo

đảm.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã xuất cảnh trước khi vụ án được thụ lý. Anh

T đã được thông báo các văn b ản tố tụng thông qua m ẹ đẻ là bà Lê Th ị Th, tuy

nhiên anh không gửi quan điểm và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Người có quy ền L và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Th ị Th trình bày: Bà là

mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T, là người đứng ra thế chấp tài sản để bảo đảm cho

khỏan vay c ủa anh T. Anh T vay 1.320.000.000 đồng của AK chi nhánh P II –

Phòng giao d ịch D như đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Tài s ản bảo đảm

cho khỏan vay là tàu hàng khô tr ọng lượng 369 tấn, có Giấy chứng nhận đăng K

phương tiện Th nội địa số 1405/ĐK, số đăng K PT-1143 do Sở giao thông vận tải

tỉnh P cấp ngày 25/10/2007 đứng tên chủ phương tiện Nguyễn Văn T; tài sản bảo

đảm thứ hai là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 05, tờ bản

đồ số 03, diện tích 172,1m2 tại địa chỉ phố Phong Châu, phường Bạch Hạc, thành

phố V, tỉnh P đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất số AD 257468 ngày 27/01/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Tính và bà Lê Thị

Th. Quá trình vay anh T đã bán tàu và tr ả cho Ngân hàng s ố tiền 771.700.000

đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo

quy định của pháp lu ật. Hiện anh T đi lao động tại Đài Loan, bà không bi ết địa

chỉ vì bà chỉ liên lạc với anh T qua điện thọai, bà đã thông báo cho anh T về việc

AK – Chi nhánh P II khởi kiện nhưng anh T không về tham gia tố tụng được, bà

đồng ý nhận các văn bản tố tụng thay cho anh T và cam kết sẽ thông báo cho anh

T. Do đã già, sức khỏe yếu nên bà đề nghị được xét xử vắng mặt.

Tại Bản án kinh doanh, thương m ại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày

11/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh P đã căn cứ vào các điều 471, 473, 474, 361,

362, 363, 369, 342, 343, khỏan 2 Điều 717, khỏan 1 Điều 719, Điều 721 của Bộ

luật dân sự năm 2005; khỏan 1 Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015; khỏan 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; điểm đ khỏan 1 Điều 12, khỏan 2

Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, quyết định:

[1] Buộc anh Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Th và những người kế thừa quyền,

nghĩa vụ của ông Tính gồm chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H TA, chị Nguyễn

Thị H, chị Nguyễn Thị Kim N, chị Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho

Ngân hàng N Việt Nam – Chi nhánh P II khỏan tiền vay theo Hợp đồng tín dụng

số 2707LAV200800492 ngày 31/10/2007 và H ợp đ ồng tín d ụng s ố

2707LAV200800884 ngày 18/7/2008 đã quá hạn số tiền là 1.705.612.417 đồng (nợ

gốc là 548.300.000 đồng, nợ lãi là 1.157.312.417 đồng), trong đó:

  • Anh Nguyễn Văn T phải trả số nợ gốc là 348.300.000 đồng, nợ lãi là

1.011.616.867 đồng. Tổng nợ gốc và nợ lãi là 1.359.916.867 đồng.

  • Bà Lê Th ị Th và những người kế thừa quyền nghĩa v ụ tố tụng của ông

Tính gồm: Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Kim

N, Nguyễn Thị L phải trả số nợ gốc là 200 triệu đồng, nợ lãi 145.695.550 đồng,

tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 345.695.550 đồng trong phạm vi bảo lãnh. Buộc bà

Lê Thị Th và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn

Tính phải giao tài sản thế chấp t heo Hợp đ ồng thế chấp s ố 182/02/2007 ngày

26/10/2007 cho Ngân hàng N Việt Nam – Chi nhánh P II để phát mại thu hồi nợ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,

bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án

theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp

luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì phải chịu theo mức lãi suất quy

định tại khỏan 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại khỏan 2 Luật Thi hành

án dân s ự thì người được thi hành án dân s ự, người phải thi hành án dân s ự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quy ền yêu cầu thi hành án t ự nguyện thi hành án,

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án

dân sự.

[2] Án phí: Bu ộc anh Nguy ễn Văn T, bà Lê Th ị Th phải liên đ ới ch ịu

63.000.000 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hòan trả lại cho cho

Ngân hàng N Việt Nam – Chi nhánh P II – Phòng giao dịch D 31.300.000 đồng

đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0000510 ngày

06/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P.

Ngòai ra, Tòa án c ấp sơ thẩm còn thông báo quy ền kháng cáo của đương

sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/5/2020, Viện trư ởng Vi ện ki ểm sát nhân dân t ỉnh P ban hành

Quyết định số 247/QĐKNST-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ

thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa phúc th ẩm, Đại diện của AK (bà Nguyễn Thị Bút K – Giám

đốc Phòng giao dịch D – AK Chi nhánh P II) xác định sau khi xét xử sơ thẩm, bà

Lê Thị Th đã tự nguyện thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp

số 182/02/2007 ngày 26/10/2007 đã K kết với Ngân hàng, cụ thể bà Th thay mặt

anh Nguy ễn Văn T trả được s ố nợ gốc 200.000.000 đ ồng và s ố nợ lãi là

79.140.000 đ ồng (theo 02 Ch ứng từ giao dịch ngày 17/05/2021 – Số hóa đơn:

05170046000055 và 05170046000056) ; AK đã làm thủ tục giải chấp tài sản bảo

đảm cho bà Th. Vì vậy, AK chỉ yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa

vụ trả AK số tiền còn lại, gồm nợ gốc 348.300.000 đ ồng, nợ lãi 1.078.172.417

đồng, đồng thời AK không yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội

đồng xét xử căn cứ khỏan 2 Điều 308; khỏan 2 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự

2015 chấp nhận Quyết đ ịnh kháng ngh ị phúc thẩm số 247/QĐKNST-VKS-DS

ngày 25/5/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân t ỉnh P; Sửa án sơ thẩm

theo hướng buộc anh Nguyễn Văn T phải trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam theo

hợp đồng tín dụng đã K. Ghi nhận việc bà Th và những người thừa kế nghĩa vụ

của ông Tính đã tr ả nợ thay cho anh T số tiền 200.000.000 đ ồng n ợ gốc,

79.140.000 đồng nợ lãi và việc Ngân hàng giải chấp tài sản thế chấp cho bà Th và

các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã

được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngày 24/5/2019, AK khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn

Văn T trả nợ theo hợp đồng tín d ụng được hai bên K kết và th ực hiện. Do đó,

tranh chấp giữa nguyên đơn và b ị đơn trong v ụ án là tranh ch ấp về kinh doanh,

thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 30 Bộ

luật Tố tụng dân sự. Theo thông báo của cục Xuất nhập cảnh – Bộ Công an thì bị

đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn T đã xuất cảnh ngày 26/11/2018, chưa có

thông tin về nước. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh P thụ lý, giải quyết vụ án là đúng

thẩm quyền.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh

tại nơi cư trú của anh Nguyễn Văn T, kết quả cho thấy anh T vẫn thường xuyên

liên lạc với bà Lê Thị Th (mẹ anh T). Bà Th khai anh T đang ở Đài Loan nhưng

bà Th không cung cấp địa chỉ cụ thể với lý do không biết địa chỉ (vì anh T đã bỏ

trốn ra ngòai), bà Th nhất trí nhận các văn bản tố tụng và cam đoan có trách nhiệm

thông báo lại cho anh T. Do đó, đây là trường hợp được coi như anh T cố tình dấu

địa chỉ. Tòa án nhân dân tỉnh P tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T thông qua

bà Th, đồng thời tiến hành xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định về tố tụng.

[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là anh Nguyễn Văn T cố tình dấu địa

chỉ nên Tòa án không triệu tập; những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan gồm

bà Lê Thị Th và các chị Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị Kim N,

Nguyễn Thị L vắng mặt và đã có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt . Do đó, H ội

đồng xét xử tiến hành xét x ử vắng mặt các đương s ự nêu trên theo quy đ ịnh tại

Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Ông Nguyễn Văn Tính chết năm 2013, trước thời điểm Ngân hàng

khởi kiện vụ án, vì vậy các chị Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị H,

Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị L là con của ông Tính, bà Th sẽ tham gia tố tụng

với tư cách là người có quyền, L nghĩa vụ liên quan. Tòa án cấp sơ thẩm xác định

bà Th cùng tòan bộ các con ông Tính, bà Th bao gồm cả anh T (là bị đơn trong vụ

án), anh Nguyễn Văn Tình (chết năm 2008) và các chị nêu trên tham gia tố tụng

với tư cách người kế thừa quyề n và nghĩa vụ tố tụng của ông Tí nh trong trường

hợp này là xác định sai tư cách tham gia tố tụng của đương sự . Do đó, Hội đồng

xét xử sửa bản án sơ thẩm về nội dung này như phần đầu của bản án phúc thẩm

đã thể hiện.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến

hành xác minh chính xác địa chỉ của các chị Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA,

Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị L để lấy lời khai và triệu tập họ

tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là vi phạm thủ tục tố tụng ( các văn bản tố

tụng đều được tống đạt qua bà Th nhưng đều không có phản hồi ). Tuy nhiên tại

cấp phúc thẩm, khắc phục thiếu sót nêu trên, theo sự ủy thác tư pháp của Tòa án

cấp phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành lấy đư ợc lời khai của các chị

Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Thị L (riêng chị

Nguyễn Thị H đi lao động tại Đài Loan, không rõ địa chỉ nên không lấy được lời

khai). Các chị C, TA, N, L đều xác nhận đã nhận đư ợc bản án sơ thẩm và không

có ý kiến gì (không kháng cáo bản án sơ thẩm).

Xét thấy, các vi phạm về tố tụng nêu trên không làm ảnh hưởng đến bản

chất, nội dung vụ án và đã được khắc phục. Do đó không cần thiết phải hủy án sơ

thẩm vì các lý do trên. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm t úc rút kinh

nghiệm về những sai sót này.

[2] Về nội dung:

[2.1] AK – Chi nhánh Gia Cẩm, P – Phòng giao dịch D K kết Hợp đồng tín

dụng số 2707LAV200800492 ngày 31/10/2007 (th ời hạn vay 60 tháng) và Hợp

đồng tín dụng số 2707LAV200800884 ngày 18/7/2008 (thời hạn vay là 36 tháng)

cho anh Nguyễn Văn T vay tổng số tiền là 1.320.000.000 đồng để trả tiền mua sà

lan máy và khắc phục sà lan sau khi bị chìm đắm.

Để đảm bảo cho khỏan vay của anh T, vợ cH ông Nguyễn Văn Tính và bà

Lê Thị Th đã K kết Hợp đồng thế chấp số 182/02/2007 ngày 26/10/2007 để thế

chấp cho Ngân hàng tài s ản là nhà xây cấp 4 và công trình ph ụ trợ kèm theo gắn

liền trên đất, diện tích đất 171,1m2 thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 03 tại địa chỉ

phố Phong Châu, phư ờng Bạch Hạc, thành ph ố V, tỉnh P đã được UBND thành

phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 257468 ngày 27/01/2006

mang tên ông Nguyễn Văn Tính và bà Lê Thị Th; phạm vi bảo đảm: 200.000.000

đồng. Hợp đồng thế chấp được đăng K giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng K

quyền sử dụng đất thành phố V, tỉnh P ngày 30/10/2007; về hình thức, nội dung

của hợp đồng đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 343 BLDS năm 2005, điểm c

khỏan 1 Điều 10 và điểm a khỏan 1 Điều 12, khỏan 4 Điều 72 Nghị định số

163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Điều 31

Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ nên có hiệu lực pháp

luật.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, anh T đã trả nợ được cho AK số tiền gốc là

771.700.000 đồng (bán Sà lan đã thế chấp để trả nợ). Năm 2018, anh T xuất cảnh

ra nước ngòai (Đài Loan). Theo tài liệu do Ngân hàng xuất trình thì tính đến ngày

27/12/2019 anh T còn n ợ Ngân hàng nợ gốc là 548.300.000 đồng, n ợ lãi là

1.157.312.417 đồng, tổng cộng là 1.705.612.417 đồng (Tại phiên tòa sơ thẩm, đại

diện theo ủy quyền của AK chỉ yêu cầu Tòa án tuyên anh T phải trả nợ lãi đến

ngày 27/12/2019 mà không yêu cầu trả nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ). Do

đó, yêu cầu khởi kiện của AK về việc buộc anh T trả khỏan nợ nêu trên, đồng thời

nếu anh T không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án

xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là hòan tòan hợp pháp nên được

chấp nhận.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Th và các chị

Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn

Thị L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng kho ản tiền vay theo các hợp

đồng tín d ụng, đồng thời buộc anh T và bà Lê Thị Th có nghĩa vụ liên đới nộp

khỏan tiền 63.000.000 đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là không đúng

pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và L ích hợp pháp của bà Lê Thị

Th và các chị Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H TA, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Kim

N, Nguyễn Thị L.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện của AK xác định sau khi xét xử sơ

thẩm, bà Lê Thị Th đã tự nguyện thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng

thế chấp số 182/02/2007 ngày 26/10/2007 đã K kết với Ngân hàng, cụ thể bà Th

thay mặt anh Nguyễn Văn T trả được số nợ gốc 200.000.000 đồng và số nợ lãi là

79.140.000 đ ồng (theo 02 Ch ứng từ giao dịch ngày 17/05/2021 – Số hóa đơn:

05170046000055 và 05170046000056); AK đã làm thủ tục giải chấp tài sản bảo

đảm cho bà Th. Vì vậy, AK chỉ yêu cầu Tòa án buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa

vụ trả AK số tiền còn l ại, gồm nợ gốc 348.300.000 đ ồng, nợ lãi 1.078.172.417

đồng, đồng thời AK không yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Việc thực hiện thỏa thuận nêu trên c ủa các bên đư ơng sự là trên cơ s ở tự

nguyện và hợp pháp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy, anh Nguyễn

Văn T có nghĩa vụ trả AK số tiền còn lại, gồm nợ gốc 348.300.000 đồng, nợ lãi

1.078.172.417 đồng. Ngòai ra, anh Nguyễn Văn T còn phải nộp án phí kinh doanh,

thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về vấn đề miễn, giảm nợ lãi của

anh Nguyễn Văn T được thực hiện theo thỏa thuận giữa AK với anh T. Hội đồng

xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL đư ợc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân

dân t ối cao thông qua ngày 17/10/2016 và đư ợc công b ố theo Quy ết đ ịnh s ố

698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 c ủa Chánh án Tòa án nhân dân t ối cao, xét th ấy

việc Tòa án c ấp sơ th ẩm quyết định: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ

thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền

lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng

phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi

suất thì phải chịu theo mức lãi suất quy định tại khỏan 2 Điều 468 của Bộ luật

Dân sự năm 2015” là không đúng nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về nội

dung này.

Vì các lẽ trên, căn cứ khỏan 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c ủa Ủy ban Thư ờng vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 247/QĐKNST-VKS-DS

ngày 25/5/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P.

Sửa Bản án kinh doanh, thương m ại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày

11/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh P, cụ thể như sau:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N Việt Nam về việc buộc

anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam – Chi nhánh P

II theo Hợp đồng tín dụng số 2707LAV200800492 ngày 31/10/2007 và Hợp đồng tín

dụng số 2707LAV200800884 ngày 18/7/2008.

Ghi nhận sau khi xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T (do bà Lê Thị Th trả

thay) đã tự nguyện trả nợ cho Ngân hàng N Việt Nam số nợ gốc 200.000.000 đồng

và số nợ lãi là 79.140.000 đ ồng (theo 02 Ch ứng từ giao dịch ngày 17/05/2021 –

Số hóa đơn: 05170046000055 và 05170046000056).

Buộc anh Nguy ễn Văn T có nghĩa v ụ trả số nợ còn lại cho Ngân hàng N

Việt Nam – Chi nhánh P II là 1.426.472.417 đồng, bao gồm nợ gốc là 348.300.000

đồng, nợ lãi là 1.078.172.417 đồng

Kể từ ngày ti ếp theo c ủa ngày xét x ử sơ th ẩm, anh Nguy ễn Văn T còn

phải tiếp tục ch ịu khỏan tiền lãi quá h ạn của số tiền nợ gốc chưa thanh tóan,

theo mức lãi su ất mà các bên th ỏa thuận trong h ợp đồng tín d ụng cho đ ến khi

thanh tóan xong kho ản nợ gốc. Trường hợp các bên có th ỏa thuận về việc điều

chỉnh lãi suất cho vay theo t ừng thời kỳ của Ngân hàng N Việt Nam thì lãi su ất

mà anh Nguy ễn Văn T phải tiếp t ục thanh tóan cũng s ẽ được điều ch ỉnh cho

phù hợp với sự điều chỉnh lãi su ất của Ngân hàng N Việt Nam.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại khỏan 2 Luật Thi hành

án dân s ự thì người được thi hành án dân s ự, người phải thi hành án dân s ự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quy ền yêu cầu thi hành án t ự nguyện thi hành án,

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án

dân sự.

[2]. Án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 63.000.000 đồng tiền án phí

kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hòan trả lại cho cho Ngân hàng N Việt Nam – Chi nhánh P II – Phòng giao

dịch D 31.300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

AA/2019/0000510 ngày 06/9/2019 c ủa Chi cục thi hành án dân s ự thành phố V,

tỉnh P.

[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSNDCC tại Hà Nội;
  • TAND tỉnh P;
  • VKSND tỉnh P;
  • Cục THADS tỉnh P;
  • Các đương sự (theo địa chỉ);
  • Lưu HS, HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phùng Hải Hiệp

Các thẩm phán

Điều Văn Hằng Hồ Đình Trung

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phùng Hải Hiệp

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *