Bản án số: 175/2025/DS-PT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Bản án số: 175/2025/DS-PT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 02/2016/AL
Ngày thông qua 2025-05-07
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Dân sự
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 175/2025/DS-PT

Ngày: 07/5/2025.

V/v tranh chấp đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên

Các Thẩm phán: ông Trương Công Thi

ông Phùng Anh Dũng

  • Thư ký phiên tòa: ông Trần Xuân Lộc, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng : ông Trần Viết

Tuấn, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân

cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc

thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 92/2025/TLPT -DS ngày 10/3/2025 về

tranh chấp đòi lại tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS -ST ngày 27/9/2024 của Tòa án

nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1091/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4

năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Lê Thị Hồng L – sinh năm 1968.

Địa chỉ: Schutzen S, 668449, L, G (Đức).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • Ông Vũ Minh T – sinh năm 1977; địa chỉ: số A đường T, thành phố T,

tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

  • Ông Chu Đ – sinh năm 1960; trú tại: P, tập thể K, phường K, Đ, Hà Nội .

Có mặt.

2. Bị đơn: ông Lê Trọng H – sinh năm 1966 và bà Hùynh Thị Ngân H1 –

sinh năm 1968.

Cùng địa chỉ: số A – A đường C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

Ông H có mặt, bà H1 vắng mặt.

3. Người kháng cáo: nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm

người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tháng 10 năm 2006, bà Lê Thị Hồng L có nhận chuyển nhượng 02 thửa đất

số 23-24 khu dân cư phố chợ H2, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là nhà số

A đường C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam ). Tuy nhiên, do thời điểm

này bà L sinh sống tại Đức nên có nhờ vợ chồng anh ruột là ông Lê Trọng H và

bà Hùynh Thị Ngân H1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tháng 9/2007, từ nguồn tiền của bà L, ông H đã xây dựng nhà ở cấp 3 theo

Giấy phép xây dựng số 145/GPXD ngày 25/9/2007 trên thửa đất số 23 khu dân

cư phố chợ H2 . Giấy phép xây dựng nhà ở bà L vẫn nhờ anh ruột là ông Lê

Trọng H đứng tên xin phép.

Khối tài sản nêu trên sau khi nhận chuyển nhượng đã giao cho vợ chồng

ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 quản lý, sử dụng cho đến nay, các

bên lập văn bản cam kết tài sản đã được Văn phòng C1 công chứng ngày

20/7/2010. Văn bản này thể hiện vợ chồng ông H, bà H1 được quyền quản lý, sử

dụng, không có quyền định đọat. Sau này nếu pháp luật Việt Nam cho phép thì

vợ chồng ông H, bà H1 sẽ hòan tất thủ tục để sang tên lại cho vợ chồng bà L.

Hiện nay, vợ chồng bà L đã ly hôn, chồng bà L cũng đã có văn bản cam kết thể

hiện khối tài sản này là của riêng bà L trong thời kỳ hôn nhân. Bà L về lại Việt

Nam sinh sống và có nhu cầu về nhà ở nhưng vợ chồng ông H, bà H1 không

thống nhất trả lại khối tài sản trên cho bà L. Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án

giải quyết:

  • Buộc ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 phải trả lại cho bà L

tòan bộ tài sản gồm: nhà và đất tại thửa đất số 23 và thửa đất số 24, tờ bản đồ số

00; địa chỉ tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là nhà số A

đường C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam).

  • Nguyên đơn thống nhất hỗ trợ cho ông H, bà H1 số tiền quản lý tài sản là

600.000.000đồng.

  • Tại các văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án và tại

phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 trình bày:

Ông H, bà H1 thừa nhận có ký Văn bản cam kết tài sản ngày 20/7/2010 với

bà Lê Thị Hồng L và thống nhất tòan bộ nội dung của Văn bản cam kết này. Tuy

nhiên, bị đơn không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà L vì nguồn gốc

khối tài sản này ông H, bà H1 và bà L cùng góp vốn mua chung 02 thửa đất số

23, 24, xây dựng nhà ở gắn liền với 02 thửa đất ở khu dân cư phố chợ H2 chứ

không phải tiền của bà L, nhưng ông H, bà H1 không có văn bản góp vốn vì chỗ

anh em ruột trong nhà nên tin tưởng mua chung đất và thỏa thuận bằng miệng

với nhau.

Tuy vợ chồng ông H, bà H1 đã ký vào văn bản cam kết ngày 20/7/2010,

nhưng là tài sản chung nên ông H, bà H1 sẽ lập thủ tục sang tên lại tài sản là

ngôi nhà 02 tầng gắn với diện tích đất tại lô đất số 23, tờ bản đồ số 00 khu dân

cư phố chợ H2 cho bà L. Vợ chồng ông H, bà H1 được nhận đất và tài sản gắn

liền tại thửa đất số 24 tờ bản đồ số 00 khu dân cư phố chợ H2, bà L hỗ trợ cho

vợ chồng ông H, bà H1 số tiền 600.000.000đồng tiền chênh lệch.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS -ST ngày 27/9/2024 của Tòa

án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Căn cứ khỏan 2 Điều 26, khỏan 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 147,

Điều 157, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 168, Điều 187, Điều 265,

Điều 266, Điều 275 của Bộ luật Dân sự; Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam;

Điều 5, Điều 169 của Luật Đất đai 2013; khỏan 2 Điều 8 của Luật Nhà ở năm

2023; Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016; Điều 27 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng L về việc

“Tranh chấp đòi lại tài sản”.

  • Buộc ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 giao trả cho bà Lê Thị

Hồng L quyền sử dụng đất và quyền sở hữu công trình xây dựng trên đất tại

thửa đất số 23, tờ bản đồ 00, địa chỉ tài sản tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh

Quảng Nam, giá trị: 4.743.910.800đồng (bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi ba triệu,

chín trăm mười nghìn, tám trăm đồng).

  • Ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 có quyền sử dụng đất, có

quyền sở hữu công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số 24, tờ bản đồ 00, địa

chỉ tài sản tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giá trị:

3.766.946.825đồng (ba tỷ, bảy trăm sáu mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi sáu

nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng).

  • Buộc ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 có trách nhiệm thối trả

giá trị chênh lệch cho bà Lê Thị Hồng L số tiền: 372.736.825đồng (ba trăm bảy

mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng).

Ngòai ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án

và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L kháng cáo tòan bộ bản án

sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Ông Chu Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị

Hồng L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Ông Chu Đ đề

nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

hoặc buộc ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 phải trả lại cho bà Lê Thị

Hồng L hai căn nhà theo Văn bản cam kết tài sản ngày 20/7/2010, bà L đồng ý

hỗ trợ cho vợ chồng ông H số tiền 600.000đồng.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng, về phần

thủ tục tố tụng ở giai đọan xét xử phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của pháp

luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà

Lê Thị Hồng L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy

quyền của nguyên đơn là ông Vũ Minh T và bị đơn bà Hùynh Thị Ngân H1 đã

được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296

của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L , Hội đồng xét xử

thấy:

[2.1] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: tháng 10 năm 2006, bà Lê Thị

Hồng L nhận chuyển nhượng 02 thửa đất số 23 và số 24 tại khu dân cư phố chợ

H2, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là nhà số A đường C, phường H, thành

phố T, tỉnh Quảng Nam ). Do thời điểm này bà L sinh sống tại Cộng hòa Liên

bang Đ nên có nhờ vợ chồng anh ruột là ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân

H1 đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 957617 ngày

26/10/2006 và số AG 957616 ngày 25/9/2007. Tháng 9/2007, cũng từ nguồn

tiền của bà L, ông H đã xây dựng nhà ở cấp 3 theo Giấy phép xây dựng số

145/GPXD ngày 25/9/2007 trên thửa đất số 23 khu dân cư phố chợ H2. Ngày

20/7/2010, tại Văn phòng C1 , vợ chồng ông H cùng với bà L đã ký “Văn bản

cam kết tài sản” với nội dung: tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền

với đất của thửa đất số 23 và số 24 được tạo lập, đầu tư từ nguồn tiền của vợ

chồng ông Phạm Lê C, bà Lê Thị Hồng L. Đồng thời giữa hai bên còn cam kết:

vợ chồng ông H tiếp tục đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

được quản lý, sử dụng đối với các thửa đất nêu trên; không có quyền định đọat

(mua bán, tặng cho, thế chấp, chuyển nhượng…); sau này, nếu pháp luật Việt

Nam cho phép vợ chồng bà L được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì vợ

chồng ông H sẽ hòan tất mọi thủ tục pháp lý sang tên quyền sử dụng đất và tài

sản trên đất tại thửa đất số 23 và số 24 cho vợ chồng bà L. Mặc dù ông H, bà H1

cho rằng cùng góp vốn mua chung với bà L 02 thửa đất này và xây dựng nhà

trên thửa đất số 23 nhưng ông H, bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ

chứng minh có việc góp vốn tạo lập khối tài sản trên với bà L. Vì vậy, Hội đồng

xét xử khẳng định: án sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền

với đất tại các thửa đất số 23 và số 24 chủ sở hữu là bà L, là có căn cứ, đúng

pháp luật, còn vợ chồng ông H chỉ là người đứng tên hộ mà thôi.

[2.2] Xét công sức quản lý, gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng

đất của bị đơn ông Lê Trọng H, bà Hùynh Thị Ngân H1 đối với 02 thửa đất số

23 và số 24, Hội đồng xét xử thấy: theo kết quả định giá thì thửa đất số 23 có giá

trị đất 3.663.460.000đồng và giá trị công trình xây dựng trên đất

1.080.450.800đồng; thửa đất số 24 có giá trị đất 3.663.460.000đồng và công

trình xây dựng trên đất giá trị 103.486.825đồng; tổng cộng: 8.510.857.625đồng.

Như vậy, so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 lô đất ban đầu

(538.500.000đồng) thì giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch tăng thêm là

6.788.420.000đồng. Do hai bên không xác định được chính xác công sức của vợ

chồng ông H, bà H1 trong việc quản lý, gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị quyền

sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà L và vợ chồng ông H có công

sức ngang nhau để chia phần giá trị tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất ban đầu là phù hợp với nội dung Án lệ số

02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày

06/4/2016.

[3] Bà L là người có quốc tịch Việt Nam định cư tại nước ngòai theo Điều

13 của Luật Quốc tịch Việt Nam. Ông Phạm Lê C (là chồng cũ của bà L) có văn

bản xác nhận tài sản các thửa đất số 23 và thửa đất số 24, địa chỉ tại: khu dân cư

P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam là tài sản riêng của bà L (văn bản được T1 tại

Cộng hòa Liên bang Đ xác nhận ngày 24/5/2023). Bà L được cấp Hộ chiếu nhập

cảnh vào Việt Nam nên đủ điều kiện sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo khỏan 2

Điều 8 Luật Nhà ở năm 2023 và đủ điều kiện để được Nhà nước công nhận

quyền sử dụng đất theo Điều 5, Điều 169 của Luật Đất đai 2013.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm

chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L. Buộc

ông H, bà H1 phải trả lại giá trị gốc của hai thửa đất số 23, số 24 cùng giá trị tài

sản trên hai thửa đất tổng cộng 1.722.437.625đồng và ½ giá trị chênh lệch tăng

thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu

3.394.210.000đồng, tổng cộng bà L được nhận 5.116.647.625đồng; ông H, bà

H1 được nhận số tiền 3.394.210.000đồng là hợp tình, hợp lý. Xét ông H, bà H1

không có nơi ở nào khác, có nguyện vọng nhận thửa đất số 24 để ở và kinh

doanh nên án sơ thẩm tuyên tiếp tục giao nhà, đất tại thửa đất số 24 cho vợ

chồng ông H, bà H1; đồng thời vợ chồng ông H có trách nhiệm thối trả chênh

lệch cho bà L là thỏa đáng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo

của nguyên đơn bà L về việc yêu cầu được nhận tòan bộ nhà, đất tại thửa đất số

23 và số 24. Ông Chu Đ yêu cầu hủy bản án sơ thẩm nhưng không đưa ra được

lý do yêu cầu hủy án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Về án phí: do tòan bộ nội dung kháng cáo của bà Lê Thị Hồng L không

được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại

khỏan 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khỏan 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L ; giữ

nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2024/DS -ST ngày 27/9/2024 của Tòa án

nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Áp dụng Điều 168, Điều 187, Điều 265, Điều 266, Điều 275 của Bộ luật

Dân sự; Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam; Điều 5, Điều 169 của Luật Đất

đai 2013; khỏan 2 Điều 8 của Luật Nhà ở năm 2023; Án lệ số 02/2016/AL được

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm

2016; khỏan 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12

năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng L về việc

“Tranh chấp đòi lại tài sản”.

1.1. Công nhận quyền sử dụng đất và tòan bộ tài sản gắn liền trên đất thuộc

thửa đất số 23, tờ bản đồ 00, địa chỉ tài sản tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh

Quảng Nam thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Lê Thị Hồng L . Buộc ông Lê

Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 giao trả cho bà Lê Thị Hồng L quyền sử

dụng đất và quyền sở hữu công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số 23, tờ bản

đồ 00, địa chỉ tài sản tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam , giá trị:

4.743.910.800đồng (bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi ba triệu, chín trăm mười nghìn,

tám trăm đồng).

1.2. Ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 có quyền sử dụng đất, có

quyền sở hữu công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số 24, tờ bản đồ 00, địa

chỉ tài sản tại: khu dân cư P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giá trị:

3.766.946.825đồng (ba tỷ, bảy trăm sáu mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi sáu

nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng).

1.3. Buộc ông Lê Trọng H và bà Hùynh Thị Ngân H1 có trách nhiệm thối

trả giá trị chênh lệch cho bà Lê Thị Hồng L số tiền: 372.736.825đồng (ba trăm

bảy mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khỏan

tiền phải thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án thì hàng

tháng còn phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi

suất quy định tại khỏan 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời

gian chưa thi hành án.

2. Án phí phúc thẩm: bà Lê Thị Hồng L phải chịu 300.000đồng án phí dân

sự phúc thẩm, được khấu trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

0000233 ngày 25/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam (do ông

Vũ Minh T nộp thay).

3. Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của

Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

  • Nơi nhận:
  • Tòa án nhân dân tối cao;
  • VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • TAND tỉnh Quảng Nam;
  • VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu: HSVA, P HCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Thị Kim Liên

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *