Bản án số: 303/2022/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 26/2018/AL |
| Ngày thông qua | 2022-10-10 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
———————
Bản án số: 303/2022/DS-PT
Ngày 10/10/2022
V/v Tranh chấp kiện chia di sản thừa
kế và yêu cầu hủy GCN QSDĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thành Quang;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Ông Hòang Mạnh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Chuyền;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Ngọc – Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10/10/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 151/2022/TLPT-DS
ngày 13/6/2022 về việc “Tranh chấp kiện chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của chị Chu Thị T và chị Chu
Hồng N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án Dân sự sơ thẩm
số 05/2021/DS-ST ngày 21/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 9199/2022/QĐ-PT ngày 26/9/2022, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chu Tiến D, sinh năm 1940; ngư ời đại diện theo ủy
quyền: Anh Chu Tiến Đ, sinh năm 1974; cùng đ ịa chỉ: Thôn 6, xã V, thành phố
P, tỉnh Hà Nam; anh Chu Tiến Đ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn 6, xã V, thành
phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành ph ố P, tỉnh Hà Nam; địa chỉ trụ sở: Đường B,
phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương
Quốc B – Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý; người đại diện theo ủy quyền: Ông
Nguyễn Trung D1 – Phó Chủ tịch UBND thành phố P vắng mặt và có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt.
2. UBND xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam; địa chỉ trụ sở: Xã V, thành phố
P, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Anh S – Chủ tịch UBND xã
V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Bà Chu Thị Hồng T1, sinh năm 1934; địa chỉ: Tổ dân phố số 16, phường
N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
4. Anh Lê Hải N1, sinh năm 1984 ; địa chỉ: Số nhà 47, t ổ dân phố số 31,
phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
5. Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1987 ; địa chỉ: Số nhà 47, t ổ dân phố số 3,
phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
6. Bà Chu Thị T2, sinh năm 1962 ; địa chỉ: Tổ dân phố số 15, phường N,
thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
7. Anh Chu Huy H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ 16, phường N, thành phố
Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
8. Anh Chu Hùng H2, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ 15, phường N, thành phố
Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
9. Anh Chu Tiến H3, sinh năm 2001; địa chỉ: Số nhà 73, tổ dân phố số 3,
phường C, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
10. Chị Chu Thị H4, sinh năm 199 6; địa chỉ: C4 E, thành phố Điện Biên
Phủ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
11. Bà Chu Thị T3, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố số 16, phường N,
thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
12. Bà Chu Thị Hòai H5, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố số 16, phường
N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
13. Bà Chu Thị V, sinh năm 1974; địa chỉ: xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
14. Bà Chu Thị V1, sinh năm 1978; địa chỉ: xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt
15. Chị Chu Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: 75/4 hẻm 144, khu phố 6, đường
N, phường T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt và ủy quyền cho ông Chu
Bá Đ1 tham gia phiên tòa.
16. Chị Chu Hồng N, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh
Hà Nam, vắng mặt và ủy quyền cho ông Chu Bá Đ1 tham gia phiên tòa.
17. Bà Chu Thị Q, sinh năm 1945; địa chỉ: Thôn 6, xã V, thành phố P, tỉnh
Hà Nam, vắng mặt.
18. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1949; địa chỉ: xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai,
vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị Chu Hồng N và chị Chu Thị T là
ông Chu Bá Đ1, sinh năm 1990; địa chỉ: tầng 5 số 61 phố V, phường Y, quận C,
thành phố Hà Nội (Theo Hợp đồng ủy quyền chứng thực số 04, quyển số 01-
SCT/H, GD ngày 23/9/2022 tại UBND xã T và H ợp đ ồng ủy quy ền s ố
13799.2020/HĐUQ, quyển số 03/TP-SCC/HNGD ngày 23/9/2022 tại Văn Phòng
công chứng N); có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Chu Hồng N và chị Chu
Thị T: Luật sư Lưu Văn Q1, Văn phòng Luật sư 365 – Đòan luật sư thành phố Hà
Nội, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Chu Thị Hồng T1, anh Lê Hải N1,
anh Lê Ngọc H, bà Chu Thị T2, anh Chu Huy H1, anh Chu Hùng H2, anh Chu
Tiến H3, chị Chu Thị H4, bà Chu Thị Hồng T7, bà Chu Thị Hòai H5, bà Chu Thị
V, bà Chu Thị V1, bà Chu Thị Q, bà Nguyễn Thị T4: Anh Chu Tiến Đ, sinh năm
1974; địa chỉ: Thôn 6, xã V, thành ph ố P, tỉnh Hà Nam. Anh Chu Tiến Đ vắng
mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
- Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Cụ Chu Phú A (chết năm 1962) có vợ là cụ Mai Thị B (chết năm 1989). Cụ
A và cụ B sinh được 06 người con gồm:
1. Ông Chu Phú T5 (chết năm 2011). Do ông Chu Phú T5 chết sau cụ A,
cụ B nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Chu Phú T5 gồm có vợ
và 6 người con (trong đó có 3 ngư ời con đã chết trước ông T5 nên các cháu của
ông T5 là người được hưởng di sản thừa kế thế vị, ông Chu Phú T5 không có con
riêng, con nuôi), cụ thể:
- Vợ ông T5 là: Bà Chu Thị Hồng T1, sinh năm 1934.
- Vợ chồng ông T5, bà T1 có 06 người con gồm:
+ Con gái: Chu Thị M, (chết năm: 2003) có 02 ngư ời con (bà Chu Thị M
không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị gồm: Anh Lê
Hải N1, sinh năm: 1984, anh Lê Ngọc H, sinh năm: 1987.
+ Chị Chu Thị T2, sinh năm: 1962
+ Con trai: Chu Phú T6, (chết năm: 2010) có 03 ngư ời con (ông Chu Phú
T6 không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị gồm: Anh
Chu Huy H1, sinh năm: 1991, anh Chu Hùng H2, sinh năm: 1994, anh Chu Tiến
H3, sinh năm: 2001.
+ Con trai: Chu Phú H6, (chết năm: 2009) có 01 người con (ông Chu Phú
H6 không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị là chị Chu
Thị H4, sinh năm: 1996.
+ Con gái: Chu Thị Hồng T7, sinh năm: 1971.
+ Con gái: Chu Thị Hòai H5, sinh năm: 1976.
2. Bà Chu Thị A1 (chết năm 1954), không có chồng con.
3. Ông Chu Phú T8 (chết năm 1980). Ông T8 có vợ là bà Nguyễn Thị T4.
Ông T8 chết trước cụ Mai Thị B và có 02 người con (ông Chu Phú T8 không có
con riêng, con nuôi) nên các con đư ợc thừa kế thế vị gồm: Chị Chu Thị V, sinh
năm 1974 và chị Chu Thị V1, sinh năm 1978.
4. Ông Chu Tiến D, sinh năm 1940.
5. Ông Chu Ân X (tức Chu X) (chết năm 2020). Ông X có vợ là bà Nguyễn
Thị L, sinh năm 1964 và có 02 con chung là:Chị Chu Thị T, sinh năm 1987 và chị
Chu Hồng N, sinh năm 1992.
6. Bà Chu Thị Q, sinh năm 1945.
Cụ A và cụ B mất không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ gì.
Di sản mà cụ A và cụ B để lại gồm:
- Về đất: Tổng diện tích 1.193m2, trong đó đ ất ở lâu dài 360m2, đất vườn
390m2, đất ao 443m2 tại thôn 6, xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Thửa đất này có
nguồn gốc do các cụ để lại, trước đây đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời mang tên cụ Mai Thị B. Sau khi cụ B chết
thì giấy tờ vẫn đứng tên cụ B.
- Tài sản trên đ ất có 01 ngôi nhà c ấp bốn 44m 2, sân láng v ữa xi măng
34,1m2, 02 cây dừa, 05 bụi tre (Ngôi nhà này từ sau khi cụ A và cụ B chết đến nay
gia đình vẫn làm nơi để thờ cúng gia tiên).
- Công trình, cây cối do vợ chồng ông Chu X, bà L xây dựng và trồng gồm
01 căn nhà mái b ằng 01 tầng, diện tích 62,9m 2; 01 bán mái l ợp tôn; 01 b ếp lợp
tôn; 01 bể nước ăn; 45m tường rào; 02 trụ cổng; 01 bộ cổng sắt; 46,4m2 sân láng
vữa xi măng; 04 cây mít; 06 cây bưởi.
Khi cụ A, cụ B còn sống, các con của hai cụ đi xây dựng gia đình và ra ở
riêng, vợ chồng ông X ở cùng cụ B. Năm 2018 được nhà nước hỗ trợ, vợ chồng
ông X đã xây dựng ngôi nhà mái bằng trên đất của cụ A, cụ B. Hiện nay tòan bộ
di sản thừa kế nêu trên đang do vợ ông X là bà Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng.
Nay những người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan g ồm chị Chu Thị Hồng T1,
anh Lê Hải N1, anh Lê Ngọc H, bà Chu Thị T2, anh Chu Huy H1, anh Chu Hùng
H2, anh Chu Tiến H3, chị Chu Thị H4, bà Chu Thị Hồng T7, bà Chu Thị Hòai
H5, bà Chu Thị V, bà Chu Thị V1, bà Chu Thị Q nhất trí với yêu cầu khởi kiện
của ông D, chia di sản thừa kế của cụ A và cụ B như sau:
- Về đất: Chia đều 1.193 m2 đất cho 05 kỷ phần thừa kế thuộc hàng thừa
kế thứ nhất gồm: Ông Chu Phú T5, ông Chu Phú T8, ông Chu Tiến D, ông Chu
Ân X (tức Chu X), bà Chu Thị Q (Trừ bà Chu Thị A1 đã chết, không có ch ồng
con nên không phải phân chia di sản). Do ông T5, ông T8 đã chết nên giao phần
di sản mà những người được hưởng, kế thừa quyền hưởng di sản là bà Chu Thị
Hồng T1, anh Lê Hải N1, anh Lê Ngọc H, bà Chu Thị T2, anh Chu Huy H1, anh
Chu Hùng H2 , anh Chu Tiến H3, chị Chu Thị H4, bà Chu Thị T3, bà Chu Thị
Hòai H5, chị Chu Thị V, chị Chu Thị V1, bà Chu Thị Q cho ông D trực tiếp quản
lý, sử dụng để làm nơi thờ cúng tổ tiên trong gia đình.
- Về nhà: Giao căn nhà cấp 4 của cụ A và cụ B cho ông D quản lý, sử dụng
để thờ cúng tổ tiên.
Phân chia cho bà L và 02 con chung của bà L và ông X là chị T và chị N
phần diện tích đất gắn liền với ngôi nhà mái bằng 01 tầng mà vợ chồng ông X, bà
L đã xây. Nếu bên nào nh ận phần diện tích đư ợc chia nhi ều hơn k ỷ phần được
hưởng thì phải có trách nhiệm thanh tóan về giá trị tài sản chênh lệch cho các kỷ
phần thừa kế khác.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số P710928 ngày
27/9/2004 của UBND thị xã P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Hà Nam cấp cho
hộ ông Chu X.
- Ý kiến của bị đơn là bà Nguyễn Thị L: Năm 1985 bà kết hôn với ông Chu
X, vợ chồng bà sống chung cùng cụ B từ năm 1985 đến khi cụ B mất là năm 1989.
Năm 1988 khi cụ B còn sống thì ông T5 và ông D có về nhà tuyên b ố cho vợ
chồng bà thửa đất này (chỉ nói mồm chứ không có giấy tờ gì). Sau khi tuyên b ố
cho thì vợ chồng bà cũng không thông báo hay kê khai v ới cơ quan nào mà ti ếp
tục quản lý sử dụng thửa đất. Đến năm 2004, ông Chu X đã tự đến cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền kê khai đứng tên trên thửa đất này và cơ quan Nhà nước cũng
có về đo đạc lại đất nên năm 2004 ông Chu X đã được UBND thị xã P, tỉnh Hà
Nam cấp GCNQSDĐ. Vợ chồng bà nộp thuế sử dụng đất đối với thửa đất này từ
năm 1985 đến nay. Khi cụ B mất không để lại di chúc nhưng khi còn s ống cụ B
cũng tuyên bố cho vợ chồng bà thửa đất này. Khi cụ A và cụ B mất không để lại
nghĩa vụ gì. Nay bà xác định thửa đất này là của vợ chồng bà và bà cũng chỉ nhất
trí cắt cho các đồng thừa kế còn lại phần diện tích 65m2 và căn nhà cấp bốn của
cụ A, cụ B trên đất để các đồng thừa kế làm nhà thờ. Phần công sức quản lý di sản
thừa kế của vợ chồng bà thì bà không có yêu cầu gì.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn (bà T1,
anh N1, anh H, bà T2, anh H1, anh H2, anh H3, chị H4, bà T3, bà H5, bà V, bà
V1, bà Q): Đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông D, trường hợp được chia
thừa kế thì xin nhận bằng hiện vật và kỷ phần được hưởng sẽ giao cho ông D quản
lý, sử dụng để làm nơi thờ phụng gia tiên.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn (chị T, chị N):
Không nhất trí với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Chu Tiến D.
UBND thành phố P và UBND xã V cùng có quan đi ểm: Theo bản đồ, sổ
mục kê xã V l ập năm 1990, th ửa đất số 107 tờ bản đồ số 3, diện tích 1.167m 2
(gồm: 360m2 đất thổ cư, 555m2 đất vườn, 252m2 đất ao) mang tên Mai Thị B.
Thực hiện Kế họach 566 ngày 05/8/2003 của UBND tỉnh Hà Nam, UBND xã V
đã triển khai đến các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thực hiện việc đăng ký kê
khai để xây dựng phương án c ấp GCNQSDĐ, ông Chu X đã đến UBND xã V
đăng ký kê khai đ ối với thửa đất. Căn cứ hồ sơ địa chính, đơn đăng ký kê khai,
UBND xã V đã xây d ựng phương án, t ổ chức công khai theo quy đ ịnh, hết thời
hạn công khai, không có ý ki ến liên quan đ ến thửa đất, UBND xã V hòan thi ện
phương án trình và được UBND thị xã P (nay là thành phố P) ra quyết định phê
duyệt phương án c ấp GCNQSDĐ cho các h ộ, trong đó h ộ ông Chu X được cấp
GCNQSDĐ số P710928 đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ PL2, tổng diện tích
1.193m2 (gồm 360m2 đất ở, 390m2 đất vườn, 443m2 đất ao). Đ ến tháng 3/2020
khi ông Chu X qua đời, ông Chu Tiến D có đơn đòi quyền sử dụng đất có nguồn
gốc của cụ Mai Thị B (mẹ ông Chu X) nên việc hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông
Chu X là cần thiết để phân chia quyền sử dụng cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ
B theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/5/2020, Tòa án đã ti ến hành xem xét th ẩm định, định giá đ ối với
diện tích đất 1.193m2 tại thửa số 31, tờ bản đồ PL2 mang tên hộ ông Chu X cùng
các tài s ản trên đ ất. C ụ thể, d iện tích đ ất 1.193m 2 (gồm 360m 2 đất ONT x
1.200.000đ/m2 = 432.000.000đ, 390m 2 đất CLN x 70.000đ/m 2 = 27.300.000đ,
443m2 đất NTS x 50.000đ/m2 = 22.150.000đ) có giá: 481.450.000đ ; tài sản trên
đất có giá: 276.231.000đ (gồm 01 ngôi nhà mái bằng 62,9m2 = 146.708.000đ, 01
bán mái l ợp tôn 34,3m 2 = 50.637.000đ, 01 b ếp l ợp mái tôn 17,68m 2 =
26.101.000đ, 01 b ể đựng nư ớc ăn = 6.409.000đ, 01 nhà c ấp b ốn 44m 2 =
21.199.000đ, tường rào xây gạch xỉ = 6.554.000đ, 02 trụ cổng = 1.324.000đ, 01
bộ cổng sắt = 1.680.000đ, sân láng v ữa xi măng trước cửa nhà mái bằng 46,4m2
= 5.392.000đ, sân láng vữa xi măng trước cửa nhà cấp bốn 34,1m2 = 3.962.000đ,
02 cây dừa = 440.000đ, 04 cây mít = 480.000đ, 06 cây bư ởi = 720.000đ, 05 b ụi
tre = 4.625.000đ).
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn là anh Chu
Tiến Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định tài sản là di sản của cụ A,
cụ B để lại là diện tích đất 1.193m2, 01 nhà cấp bốn 44m2, sân láng vữa xi măng
trước cửa nhà cấp bốn 34,1m2; còn những tài sản khác trên đất của hai cụ là của
gia đình ông X, bà L.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ngày 21/6/2021, Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Nam đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Chu Tiến D về chia di sản thừa kế
diện tích đất 1.193m2 (gồm 360m2 đất ở, 390m2 đất vườn, 443m2 đất ao); sân láng
vữa xi măng trước cửa nhà cấp bốn 34,1m2, 01 nhà cấp bốn 44m2 của cụ Chu Phú
A, cụ Mai Thị B để lại tại thôn 6, xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam và yêu cầu hủy
GCNQSDĐ số P710928 ngày 27/9/2004 của UBND thị xã P (nay là UBND thành
phố P), tỉnh Hà Nam cấp cho hộ ông Chu X.
2. Xác định hàng thừa kế của cụ A, cụ B gồm:
2.1. Ông Chu Phú T5 (chết năm 2011). Do ông Chu Phú T5 chết sau cụ A,
cụ B nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Chu Phú T5 gồm có vợ
và 6 người con (trong đó có 3 ngư ời con đã chết trước ông T5 nên các cháu của
ông T5 là người được hưởng di sản thừa kế thế vị, ông Chu Phú T5 không có con
riêng, con nuôi), cụ thể như sau:
- Vợ ông T5 là: Bà Chu Thị Hồng T1, sinh năm 1934.
- Vợ chồng ông T5, bà T1 có 06 người con gồm:
+ Con gái: Chu Thị M, (chết năm: 2003) có 02 ngư ời con (bà Chu Thị M
không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị gồm: Anh Lê
Hải N1, sinh năm: 1984, anh Lê Ngọc H, sinh năm: 1987.
+ Chị Chu Thị T2, sinh năm: 1962
+ Con trai: Chu Phú T6, (chết năm: 2010) có 03 người con (ông Chu Phú
T6 không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị gồm: Anh
Chu Huy H1, sinh năm: 1991, anh Chu Hùng H2, sinh năm: 1994, anh Chu Tiến
H3, sinh năm: 2001.
+ Con trai: Chu Phú H6, (chết năm: 2009) có 01 người con (ông Chu Phú
H6 không có con riêng, con nuôi), là người được hưởng thừa kế thế vị là chị Chu
Thị H4, sinh năm: 1996.
+ Con gái: Chu Thị Hồng T7, sinh năm: 1971.
+ Con gái: Chu Thị Hòai H5, sinh năm: 1976.
2.2. Bà Chu Thị A1 (chết năm 1954), không có chồng con.
2.3. Ông Chu Phú T8 (chết năm 1980). Ông T8 có vợ là bà Nguyễn Thị T4.
Ông T8 chết trước cụ Mai Thị B và có 02 người con (ông Chu Phú T8 không có
con riêng, con nuôi) nên vợ và các con được thừa kế thế vị gồm: Bà Nguyễn Thị
T4, chị Chu Thị V, sinh năm 1974 và chị Chu Thị V1, sinh năm 1978.
2.4. Ông Chu Tiến D, sinh năm 1940.
2.5. Ông Chu Ân X (tức Chu X) (chết năm 2020). Ông X có vợ là bà
Nguyễn Thị L, sinh năm 1964 và có 02 con chung là: Ch ị Chu Thị T, sinh năm
1987 và chị Chu Hồng N, sinh năm 1992.
2.6. Bà Chu Thị Q, sinh năm 1945.
3. Xác định di sản của cụ A, cụ B là diện tích đất 1.193m2 (gồm 360m2 đất
ONT, 390m2 đất CLN, 443m2 đất NTS) trị giá 481.450.000đ; các tài sản trên đất
(01 ngôi nhà cấp bốn 44m2, sân láng vữa xi măng 34,1m2). Tổng giá trị di sản của
cụ A, cụ B để lại là: 506.611.000đ – 100.000.000đ (trả công sức trông nom, bảo
quản di sản, công sức vượt lập, tiền thuế đất cho vợ chồng bà L) = 406.611.000đ
được chia cho 5 kỷ phần thừa kế, mỗi kỷ phần được 81.322.000đ.
4. Công nh ận sự tự nguyện của những người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên
quan phía nguyên đơn về việc giao cho ông Chu Tiến D quản lý, sử dụng phần di
sản bằng đất mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hưởng.
5. Giao ông Chu Tiến D quản lý, sử dụng diện tích đất 937m2 tọa lạc tại thôn
6, xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam (trong đó đất ở 104m2, đất vườn 390m2, đất ao
443m2, có sơ đồ kèm theo). Trên đất có ngôi nhà cấp 4 có diện tích 44m2; sân láng
vữa xi măng trước cửa nhà cấp 4, diện tích 34,1m2; 35m tường rào xây gạch xỉ;
02 cây dừa; 04 cây mít; 06 cây bưởi; 05 bụi tre.
6. Giao bà Nguyễn Thị L, chị Chu Thị T, chị Chu Hồng N quản lý, sử dụng
diện tích 256m2 đất ở (ONT) tọa lạc tại thôn 6, xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam
(có sơ đồ kèm theo). Trên đất có các công trình do vợ chồng ông X, bà L xây dựng
gồm 01 căn nhà mái b ằng 01 tầng diện tích 62,9m2; 01 bán mái l ợp tôn; 01 b ếp
lợp tôn; 01 bể nước ăn; 10m tường rào; 02 trụ cổng; 01 bộ cổng sắt; 46,4m2 sân
láng vữa xi măng trước cửa nhà mái bằng diện tích 62,9m2.
7. Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện của nguyên đơn và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn về việc không yêu cầu bà L, chị T,
chị N phải thanh tóan ti ền chênh lệch đối với diện tích đất ONT được hưởng là
99.548.000đ.
8. Buộc bà Nguyễn Thị L phải tháo dỡ phần bức tường rào xây gạch xỉ nằm
trên phần đất giao cho ông Chu Tiến D (phần bức tường xây sau khi Tòa án nhân
dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản).
9. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P710928 ngày 27/9/2004 của
UBND thị xã P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Hà Nam cấp cho hộ ông Chu X.
10. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông D, bà T1, ông T5, ông
T8, bà Quyến; bà L, chị T, chị N phải chịu án phí đ ối với kỷ phần thừa kế, mỗi
người 1.355.366đ (làm tròn là 1.355.000đ); bà L phải ch ịu án phí đ ối v ới
100.000.000đ tiền công sức trông nom, b ảo quản di sản, công sức quản lý, tiền
thuế đất là 5.000.000đ.
11. Bác yêu cầu khác của đương sự.
Ngòai ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/9/2021 và ngày 15/10/2021, chị Chu Hồng
N, chị Chu Thị T có đơn kháng cáo đối với bản án Dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-
ST của Tòa án nhân dân t ỉnh Hà Nam. Chị N và chị T đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác đ ịnh diện tích
đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình chị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là ch ị Chu Hồng N và chị Chu
Thị T vắng mặt, ủy quyền cho ông Chu Bá Định tham gia phiên tòa. Người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N và chị T là Luật sư Lưu Văn Quang có
đơn xin v ắng mặt; trong đơn, ông Quang trình bày các quan điểm bảo vệ cho
người kháng cáo sẽ được người đại diện theo ủy quyền trình bày tại phiên tòa.
Người đại diện cho chị Chu Hồng N và chị Chu Thị T đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm chỉ chia 2/3 khối tài sản mà Tòa án cấp sơ thẩm xác định là di sản
thừa kế vì tòan bộ khối tài sản này là của cụ B, cụ A và ông X; đồng thời, xem xét
công sức trông nom, tôn tạo, bảo quản di sản của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Việc Người đại diện theo
ủy quyền cho rằng khối di sản là tài sản chung của cụ A, cụ B và ông X là không
có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
được xem xét tại phiên tòa , ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn vắng mặt và
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những người kháng cáo vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
2 nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy sự vắng mặt của các đương
sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; việc tiếp tục giải quyết vụ án như
đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là phù hợp với
quy định tại khỏan 2 và khỏan 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thời hạn kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, tại phiên
tòa sơ thẩm chị Chu Hồng N, chị Chu Thị T vắng mặt. Đến ngày 23/8/2021, chị
Chu Hồng N nhận được bản án sơ thẩm do Tòa án tống đạt; ngày 12/10/2021, chị
Chu Thị T nhận được bản án sơ thẩm. Trong đơn kháng cáo, chị T và chị N trình
bày việc chị T nhận được bản án chậm là do diễn biến phức tạp của dịch bệnh
Covid – 19 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chị T cư trú. Theo quy định tại các
điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận đơn kháng cáo của chị N và chị T về hình thức để xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
[3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, ngày 16/7/2020, Tòa
án nhận được đơn khởi kiện của ông Chu Tiến D yêu cầu chia di sản thừa kế của
bố mẹ để lại, đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số P 710928 ngày
27/9/2004 của UBND thị xã P (nay là thành phố P ) cấp cho hộ ông Chu X. Tòa
án nhân dân tỉnh Hà Nam xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp di sản thừa
kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ ”, tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là
đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về thời hiệu khởi kiện, cụ Chu Phú A chết năm 1962; cụ Mai Thị B chết
năm 1989. Theo quy định tại Đi ều 623 Bộ luật Dân sự và Án lệ số 26/2018/AL
được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018
thì thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với bất động sản trong trường hợp này là 30
năm tính từ ngày 10/9/1990. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đơn khởi kiện của ông
Chu Tiến D bảo đảm yêu cầu về thời hiệu là chính xác.
[5] Về di sản thừa kế, theo lời khai của ông Chu Tiến D, các đương sự khác
và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có căn cứ để xác định cụ A, cụ B chết đi để lại
di sản là thửa đất tọa lạc tại thôn 6, xã V, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Theo bản đồ
năm 1986, thửa đất có diện tích là 1.167 m2 (gồm thổ cư: 360m 2, thổ canh: 555
m2, đất ao 252 m2) đến năm 2004 đo đạc bằng máy để cấp giấy chứng nhận QSDĐ
đứng tên ông Chu X thì diện tích diện tích 1.193 m2 (gồm 360 m2 đất ở, 390 m2
đất vườn, 443 m2 đất ao), tăng 26 m2 (thửa đất số 31, tờ bản đồ PL2). Tài sản trên
đất gồm 01 nhà cấp bốn, diện tích 44 m2 và sân láng xi măng, diện tích 34,1 m 2.
Ngày 08/5/2020, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định, định giá và
đã xác định: diện tích đất 1.193 m2 trị giá là 481.450.000đ (gồm 360 m2 đất ONT
= 432.000.000đ; 390 m2 đất CLN = 27.300.000đ; 443 m2 đất NTS = 22.150.000đ);
34,1 m2sân láng vữa xi măng = 3.962.000đ; ngôi nhà cấp bốn 44m2 = 21.199.000đ.
Tổng giá trị di sản là 506.611.000đ.
[6] Bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi liên quan về phía bị đơn
trình bày, khi cụ B còn sống đã tuyên bố bằng miệng cho vợ chồng bà thửa đất
trên vì thương vợ chồng bà vất vả, việc cho đất không lập thành văn bản, không
có ai chứng kiến. Ông D và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về
phía nguyên đơn trình bày, sau khi cụ B mất, các anh em trong gia đình vẫn thống
nhất để cho ông X cùng vợ con tiếp tục sinh sống tại thửa đất cụ B để lại, đồng
thời có trách nhiệm quản lý, trông coi nhà đất là di sản của bố mẹ để làm nơi thờ
cúng tổ tiên. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm
bà L không xuất trình được chứng cứ chứng minh đã được cụ A, cụ B và các anh
chị em trong gia đình tặng cho vợ chồng bà thửa đất; tại phiên họp tiếp cận, công
khai chứng cứ ngày 05/10/2020, các bên đương sự đã thống n hất về những tài
liệu, chứng cứ, không yêu cầu tiến hành xác minh hoặc thu thập thêm chứng cứ
gì khác. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ A, cụ B chết đi không có di
chúc và giải quyết chia thừa kế theo pháp luật là có căn cứ, phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[7] Về diện hàng thừa kế , cụ A và cụ B có 6 người con; trong đó, bà Chu
Thị A1 chết năm 1954, không có chồng con (chết trước thời điểm mở thừa kế) .
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng diện hàng thừa kế di sản của cụ A, cụ B gồm
ông Chu Phú T5 (chết năm 2011), ông Chu Phú T8 (chết năm 1980, có 02 con),
ông Chu Tiến D, bà Chu Thị Q và ông Chu Ân X (chết năm 2020). Riêng việc
xác định bà Nguyễn Thị T4 (vợ ông Chu Phú T8) là thừa kế thế vị của ông Chu
Phú T8 (do ông T8 chết trước cụ Mai Thị B) là không chính xác. Theo quy định
tại Điều 652 Bộ luật Dân sự thì chỉ các con của ông T8 mới là thừa kế thế vị. Tuy
nhiên, sai sót này không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án, bởi lẽ các thừa
kế và những người thừa kế thế vị về phía nguyên đơn đều thống nhất quan điểm
nhận thừa kế bằng hiện vật và giao cho ông Chu Tiến D quản lý, sử dụng để làm
nơi thờ phụng gia tiên.
[8] Về công sức trông nom, b ảo quản di sản, công sức vượt lập, thuế đất,
các đương sự đều xác định từ sau khi cụ B chết đến nay, vợ chồng ông X, bà L là
người quản lý, sử dụng, nộp thuế đất và sinh sống cùng với hai cụ 32 năm. Năm
2018, được nhà nước hỗ trợ, ông X, bà L đã xây dựng 01 ngôi nhà mái b ằng 01
tầng trên di ện tích đ ất này và các đương s ự đều biết không có ý ki ến gì. Bà L
không đề nghị giải quyết công sức trông nom, quản lý di sản thừa kế. Tuy nhiên
tại phiên tòa, anh Chu Tiến Đ là người đại diện cho nguyên đơn và những người
có quyền lợi liên quan v ề phía nguyên đơn nhất trí trích 100.000.000đ từ di sản
của hai cụ để trả công sức trông nom, bảo quản di sản, công sức vượt lập, thuế đất
cho vợ chồng bà L. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này là phù hợp với quy
định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Như vậy, di
sản c ủa cụ A, cụ B còn l ại để phân chia là 506.611.000đ – 100.000.000đ =
406.611.000đ; đư ợc chia làm 5 ph ần, m ỗi k ỷ phần là 406.611.000đ : 5 =
81.322.000đ.
[9] Về phân chia di sản bằng hiện vật, trên cơ sở yêu cầu của các bên đương
sự, nhu cầu về chỗ ở, đồng thời để bảo đảm giá trị tài sản trên đất, Tòa án cấp sơ
thẩm đã quyết định chia cho bà L, chị T, chị N phần diện tích đất thổ cư 256m2
có giá 307.200.000đ, 01 căn nhà mái bằng 01 tầng, diện tích 62,9m2, 01 bán mái
lợp tôn, 01 bếp lợp tôn, 01 bể nước ăn, 10m tường rào, 02 trụ cổng, 01 bộ cổng
sắt, 46,4m2 sân láng vữa xi măng; chia cho ông D và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn phần di sản còn lại là có căn cứ, hợp tình,
hợp lý.
[10] Tòa án c ấp sơ th ẩm cũng đã căn c ứ vào kết quả định giá tài s ản, xác
định số tiền chênh lệch 99.548.000đ so với kỷ phần thừa kế được nhận mà bà L,
chị T, chị N lẽ ra phải thanh tóan cho phía nguyên đơn là đúng pháp lu ật. Tuy
nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, anh Chu Tiến Đ – đại diện phía nguyên đơn không
yêu cầu bà L và các con phải trả khỏan tiền chênh lệch về tài sản này; anh Đ tự
nguyện chịu tòan bộ chi phí xem xét th ẩm định, định giá tài s ản. Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu của anh Chu Tiến Đ là phù hợp với quy định của pháp
luật về quyền tự định đọat của các đương sự trong giao dịch dân sự.
[11] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số P710928 ngày 27/9/2004 do
UBND thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Hà Nam cấp mang tên hộ ông Chu X,
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Nguồn gốc thửa đất số 31, tờ bản đồ PL2, diện
tích 1.193m2 là của cụ A và cụ B. Năm 2003, ông Chu X kê khai và có đơn đăng
ký quyền sử dụng đất; năm 2004 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ nhưng chưa có
sự đồng ý của các anh chị em trong gia đình và không có tài liệu nào thể hiện việc
được hưởng thừa kế của các cụ. Vì vậy, việc UBND thị xã P cấp giấy CNQSD đất
cho hộ ông Chu X là chưa đúng quy định tại khỏan 1 Điều 50 Luật Đất đai năm
2003. Tòa án c ấp sơ th ẩm chấp nhận yêu c ầu của nguyên đơn, tuyên h ủy Giấy
chứng nhận QSDĐ số P710928 nêu trên là cần thiết.
[12] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không
có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Chu Thị T và chị Chu Hồng N như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[13] Về án phí, do không được chấp nhận kháng cáo, chị Chu Thị T và chị
Chu Hồng N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khỏan 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của chị
Chu Thị T và chị Chu Hồng N , giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số
05/2021/DS-ST ngày 21/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
2. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s ử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Chu Thị T và chị Chu Hồng N, mỗi người phải
nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã n ộp theo biên lai s ố AA/2021/0001455 ngày 22/10/2021 và biên lai s ố
AA/2021/0001456 ngày 22/10/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
3. Các quy ết định khác c ủa bản án dân s ự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Cục THADS tỉnh Hà Nam;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu Phòng HCTP (VP), HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Chu Thành Quang
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
