Bản án số: 01/2022/HNGĐ-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 03/2016/AL |
| Ngày thông qua | 1999-09-04 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Hôn nhân và Gia đình |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
- –
Bản án số: 01/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 02 – 3 – 2022
V/v “Ly hôn”
ƯỚ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: Ông Lê Tự
Ông Nguyễn Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Bà Bùi Thị Dung – Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022, t ại trụ sở Tòa án nhân dân c ấp cao t ại Đà N ẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 06/TBTL-TA ngày 05
tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 4
năm 2021 của Tòa án nhân dân t ỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa
vụ án ra xét x ử số 1097/2022/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2022, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T P, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Q 1, xã V,
huyện V, Khánh Hòa, có mặt;
2. Bị đơn: Anh Võ Đức T, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn Q 1, xã V, huyện V,
Khánh Hòa, có mặt;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ông Võ Văn T, sinh năm 1930, có mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Võ Thị P T; địa chỉ: Thôn Q 1,
xã V, V, Khánh Hòa, có mặt;
- Anh Võ Đức H, sinh năm 1964 và anh Võ Đức H, sinh năm 1970; cùng địa
chỉ: Thôn Q 1, xã V, V, Khánh Hòa, có mặt;
- Bà Võ Thị P T, sinh năm 1956 và ông Võ Hòai D, sinh năm 1958; cùng địa
chỉ: TDP số 12, thị trấn V, huyện V, Khánh Hòa, có mặt;
- Bà Võ Thị T P, sinh năm 1961. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị P
T; địa chỉ: Thôn Q 1, xã V, V, Khánh Hòa, có mặt;
- Anh Võ Đức H, sinh năm 1966 ; đ ịa chỉ: TDP s ố 3, th ị trấn V, huy ện V,
Khánh Hòa, có mặt;
- Ủy ban nhân dân huyện V, vắng mặt;
- Ủy ban nhân dân xã V, vắng mặt;
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn T, anh Võ Đức H,
anh Võ Đức H, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H: Luật
sư Hà khánh V, Văn phòng luật sư H, có mặt.
Người kháng cáo: Ông Võ Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị
T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức T.
N I DUNG VỤ :
1. Theo khởi kiện, trình bày của nguyên đơn thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Đức T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết
hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận
kết hôn ngày 04/9/1999.
Sau khi k ết hôn, v ợ chồng chung s ống hạnh phúc, đ ến đầu năm 2017 thì v ợ
chồng phát sinh mâu thu ẫn, nguyên nhân là do tính tình không h ợp nên thường xảy
ra cãi vã v ới nhau. Anh T đã có lần đánh chị bị thương tích (có gi ấy chứng thương
do Trung tâm Y t ế huyện V cấp), nên t ừ đó chị đã về ở nhờ nhà cha mẹ của chị từ
tháng 05 năm 2017 đ ến nay. Nay chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có h ạnh
phúc, không còn yêu thương nhau, vì v ậy ch ị yêu c ầu Tòa án gi ải quy ết cho ch ị
được ly hôn với anh Võ Đức T.
- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Võ T T, sinh năm 2000, đã đủ
tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị và anh T có các tài sản chung như sau: 01 chiếc xe máy
hiệu Nouvo; 01 chiếc xe máy hiệu Wave; 01 bộ bàn ghế Salon gỗ; 01 tủ gỗ nhỏ (táp
đờ ni), 01 giường gỗ, 01 máy điều hòa; 01 máy giặt; 01 tủ lạnh; 01 Ti vi; 01 Lap top
hiệu DELL và 01 th ửa đất số 730, tờ bản đồ số 50 với diện tích 112,3m2 tại thôn Q
1, xã V, huy ện V, t ỉnh Khánh Hòa đã đư ợc U ỷ ban nhân dân huy ện V cấp gi ấy
chứng nhận ngày 15/01/2013, số vào sổ cấp GCN: CH04820.
Về động sản chị xin nhận: 01 chi ếc xe máy hi ệu Wave, 01 b ộ bàn ghế Salon
gỗ; 01 máy giặt; 01 lap top hi ệu DELL; 01 tủ gỗ nhỏ (táp đờ ni). Những tài sản còn
lại 01 chiếc xe máy hiệu Nouvo, 01 máy điều hòa, 01 tủ lạnh; 01 ti vi, 01 giường gỗ
giao lại cho anh Võ Đức T.
Về nguồn gốc thửa đất nói trên là ph ần đất thuộc thửa đất số 194, tờ bản đồ số
18 với diện tích 261m2, trong đó có 200m2 đất thổ cư và 61m2 đất trồng cây lâu năm
của cha mẹ chồng chị là ông Võ Văn T và bà Trần Thị B tạo lập năm 1995 và được
Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/7/1997.
Sau đó, cha mẹ chồng chị đã tách thửa đất 194, tờ bản đồ số 18 thành 02 thửa: Thửa
đất 581, tờ bản đồ số 18, diện tích 158m2; thửa 582, tờ bản đồ số 16 diện tích 103m2
(thửa đất 581 chính là thửa đất 730 hiện nay).
Ngày 11/10/2006, cha mẹ chồng chị là ông Võ Văn T và bà Trần Thị B đã tặng
cho vợ chồng chị thửa đất số 581, tờ bản đồ số 18, diện tích 158m2 (nay là thửa 730,
tờ bản đồ 50) trên đất có căn nhà c ấp 4, mái tole, vách xây, n ền gạch men. Sau đó,
vợ chồng chị đã tự bỏ tiền để xây, sửa chữa lại căn nhà. H ợp đồng tặng cho này đã
được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa ch ứng thực. Thực chất việc
tặng cho thửa đất này là ti ền của vợ chồng chị bán thửa đất 582 để mua lại với giá
140 triệu đồng, vì là gia đình nên vợ chồng chị chỉ giao tiền mà không có giấy tờ gì.
Khi nhận thửa đất 582 diện tích 103m2 do cha mẹ anh T cho vợ chồng chị trước đó,
vợ chồng chị đã phải thối tiền lại cho hai ngư ời anh c ủa anh T là ông H và ông H
mỗi người 30 chỉ vàng 96% vì cha mẹ anh T cho 3 anh em phần đất này.
Thực t ế ở đây là chuy ển như ợng, nhưng đ ể tránh vi ệc đóng thu ế chuyển
nhượng, nên hai bên l ập hợp đồng tặng cho quy ền sử dụng đất và tài s ản gắn liền
trên đất. Sau đó, vợ chồng chị đã làm thủ tục xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, nên ngày 15/01 /2013 Ủy ban nhân dân huy ện V đã cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và tài s ản gắn liền trên đất thửa đất số 730, tờ bản đồ 50, số vào
sổ cấp GCN: CH04820, diện tích 112,3m2 đứng tên chị và anh Võ Đức T. Hiện nay,
nhà và đất nói trên anh T đang quản lý, sử dụng, nên chị yêu cầu Tòa án gi ải quyết
chia đôi tài sản này, chị xin nhận bằng tiền tương đương với ½ giá trị nhà và đất nói
trên.
- Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ ai và không ai nợ vợ chồng chị.
- Về yêu cầu độc lập của ông Võ Văn T và những người thừa kế của bà B thì
chị không đồng ý, vì đây là tài sản chung của chị và anh Võ Đức T.
2. Theo trình bày của bị đơn anh Võ Đức T thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung: Anh T thống nhất với ý kiến của
chị Nguyễn Thị T P và anh đồng ý ly hôn với chị P.
- Về tài sản chung: Những tài sản là động sản thì anh đồng ý như chị P đã trình
bày. Cụ thể anh đồng ý nhận 01 chiếc xe máy hi ệu Nouvo, 01 máy đi ều hòa, 01 t ủ
lạnh; 01 ti vi, 01 giường gỗ. Số tài sản còn lại thì giao cho chị P
Anh thống nhất về nguồn gốc đất như chị P đã trình bày. Tuy nhiên về thửa đất
số 730, tờ bản đồ 50, diện tích 112,3m2 tọa lạc tại thôn Q 1, xã V, huyện V đã được
Ủy ban nhân dân huy ện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài s ản khác g ắn li ền v ới đ ất s ố vào s ổ cấp GCN: CH04820 ngày
15/01/2013. Thực chất về thửa đất này là do anh đã tự ý lấy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên cha mẹ của anh và 01 tờ giấy tặng cho quyền sử dụng đất (mẫu
giấy này anh xin ở xã) anh không nh ớ đã tự viết hay nh ờ người khác vi ết, nhưng
không phải do cha của anh viết. Sau đó, anh đã cầm tờ giấy tặng cho quyền sử dụng
đất và lừa dối nói với cha ký vào giấy để anh làm thủ tục đổi sổ mới, nên cha anh đã
ký và giả luôn chữ ký của mẹ anh là bà Trần Thị B. Sau khi mẹ anh mất, năm 2017
cha của anh và các anh, ch ị, em của anh phát hi ện Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đứng tên vợ chồng anh, nên yêu c ầu vợ chồng anh trả lại nhà, đất nói trên. Nay
cha anh kiện yêu cầu anh trả lại nhà, đất nói trên thì anh đ ồng ý trả lại vì đây là tài
sản chung của cha mẹ anh là ông Võ Văn T và bà Trần Thị B.
3. Theo trình bày c ủa người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan có yêu c ầu độc
lập:
3.1. Ông Võ Văn T: Ông và bà Trần Thị B có 07 người con gồm: Võ Thị P T,
Võ Hòai D, Võ Thị T P, Võ Đức H, Võ Đức H, Võ Đức H và Võ Đức T. Quá trình
chung sống, vợ chồng ông có t ạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 194, tờ
bản đồ số 18, diện tích 261m2 (trong đó có 200m 2 đất thổ cư và 61m 2 đất trồng cây
lâu năm) tọa lạc tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, trên đất có xây 01 căn
nhà cấp 4 để ở, đã được Ủy ban nhân dân huy ện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số I 733102, số vào sổ cấp GCN: 00437 ngày 13/7/1997. Sau đó,vợ chồng
ông đã tách th ửa đất 194 thành 02 th ửa: Thửa đất 581 diện tích 158m 2 và thửa đất
582 diện tích 103m2.
Ngày 26/9/2005, vợ chồng ông cho vợ chồng T, P thửa đất 582 diện tích 103m2
(trên đất không có tài s ản gì). Còn l ại thửa đất 581 tờ bản đồ số 18 diện tích 158m2
vẫn thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông. Tuy hợp đồng ghi là hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng thực chất là cho đ ất và hợp đồng này đã
được Ủy ban nhân dân xã V chứng thực vào ngày 07/10/2005. Sau đó, vợ chồng anh
T, chị P có xây căn nhà để ở, thời gian sau vợ chồng anh T, chị P đã bán thửa đất nói
trên để về ở với vợ chồng ông tại thửa đất 581. Về thửa đất 582 ông không có ý kiến
gì.
Tuy nhiên, v ề thửa đất 581, t ờ bản đồ số 18, diện tích 158m 2 (nay là th ửa số
730, tờ bản đồ số 50, số vào sổ cấp GCN: CH04820 với diện tích 112,3m2 do UBND
huyện V cấp ngày 15/01/2013), vợ chồng ông giành để xây dựng nhà ở, sinh sống và
sau này làm nhà từ đường để thờ cúng, chứ vợ chồng ông chưa hề tặng cho hay bán
thửa đất này cho bất kỳ ai. Nhưng sau đó, con ông là anh Võ Đ ức T đã tự ý làm sẵn
hồ sơ gian dối để lừa ông ký giấy tờ trong lúc ông đang ở trên rẫy. Vì ông tin tưởng
anh T nói ký giấy để thay sổ mới nên ông m ới ký và ông đã ký luôn cho v ợ ông là
bà Trần Thị B. Đến khi vợ chồng anh T, chị P mâu thuẫn với nhau ông m ới biết bị
lừa. Khi biết việc này ông đã g ửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã V và Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện V vào ngày 20/4/2017 và gửi đơn đến Tòa
án nhân dân huyện V vào ngày 12/11/2017.
Đối với căn nhà trên th ửa đất này là do ông làm đơn xin phép xây c ất căn nhà
này. Vợ chồng anh T không bỏ tiền ra xây cất.
Vì vậy, ông đ ề nghị Tòa án bác yêu c ầu của chị Nguyễn Thị T P về việc chia
tài sản chung là nhà và đ ất nói trên vì đây là tài s ản của vợ chồng ông; công nh ận
quyền s ử dụng đ ất (trên có nhà c ấp 4) to ạ lạc t ại thôn Q 1, xã V, huy ện V, t ỉnh
Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông và những người thừa kế
của bà Trần Thị B, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 286740, số vào
sổ cấp GCN: CH04820 do U ỷ ban nhân dân huyện V cấp ngày 15/01/2013 cho anh
Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P; buộc anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P trả lại
nhà và đất nói trên cho ông và những người thừa kế của bà Trần Thị B.
3.2. Ông Võ Hòai D, Võ Thị T P, Võ Đức H, Võ Đức H, Võ Thị P T, Võ Đức
H: Thống nhất như trình bày và yêu cầu của ông Võ Văn T.
4. Trình bày của Ủy ban nhân dân huyện V thể hiện:
Tại Công văn s ố 759/UBND-TNMT ngày 09/4/2019 c ủa U ỷ ban nhân dân
huyện V phúc đáp Công văn s ố 187/TA-DS ngày 21/3/2019 c ủa Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa đ ối với yêu c ầu hủy Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài s ản khác g ắn liền với của ông Võ Văn T có nội dung: Việc tặng cho
quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn T và bà Tr ần Thị B với anh Võ Đức T và chị
Nguyễn Thị T P thực hiện theo quy đ ịnh tại Điều 168 Luật Đất đai năm 2003; việc
cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn
liền với đất cho anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P thực hiện theo Điều 144 của
Nghị định 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính
phủ. Do vậy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất cho anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P là đúng theo
quy định của pháp luật.
5. Trình bày của Ủy ban nhân dân xã V thể hiện:
Tại Công văn s ố 225/UBND ngày 12/8/2019 c ủa U ỷ ban nhâ n dân xã V ạn
Hưng phúc đáp Công văn s ố 208/TA-DS ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân t ỉnh
Khánh Hòa v ề nội dung có liên quan đ ến ý ki ến của ông Võ Văn T về việc ông T
thừa nhận ông bị lừa và đã gi ả chữ ký của bà Trần Thị B (vợ của ông T) để ký vào
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P. Do
không có cơ sở nên Ủy ban nhân dân xã V không có ý kiến.
6. Người làm chứng là ông Dương Trừ trình bày thể hiện:
Về việc ký ch ứng thực hợp đồng chuyển như ợng quyền sử dụng thửa đất số
581, tờ bản đồ số 18, diện tích 158m2 (nay là thửa 730, tờ bản đồ số 50) giữa ông Võ
Văn T và bà Tr ần Th ị B với anh Võ Đ ức T và chị Nguyễn Th ị T P lập ngày
11/10/2006, ông là người ký. Nhưng tại thời điểm ký ch ứng thực có mặt tất cả các
bên hay không thì ông không bi ết, bởi có b ộ phận tham mưu lên đ ể ông ký ch ứng
thực. Ngòai ra, tôi không bi ết gì thêm. Ông xin phép đư ợc vắng mặt trong các bu ổi
làm việc của Tòa án và phiên xét xử.
Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ th ẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09 tháng
4 năm 2021 và quy ết đ ịnh s ửa ch ữa, b ổ sung b ản án s ố 02/QĐ-SCBSBA ngày
20/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Áp dụng Điều 33, 38, 51, 55; đi ểm b, c kho ản 2, 3 Đi ều 59; khỏan 2 Đi ều 62
của Luật Hôn nhân và gia đình; Đi ều 213; Điều 219; Điều 223 của Bộ luật Dân sự
năm 2005 và Án l ệ số 03/2016/AL; Điều 147, 165 c ủa Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c ủa Ủy ban Thư ờng
vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nh ận sự thuận tình ly hôn gi ữa chị Nguyễn Thị
T P và anh Võ Đức T.
2. Về quan hệ tài sản chung:
2.1. Về động sản: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc phân chia
tài sản là những động sản. Cụ thể:
Anh Võ Đ ức T được nhận và s ở hữu các tài s ản gồm: 01 chiếc xe máy hi ệu
Nouvo, 01 máy điều hòa, 01 Tủ lạnh, 01 Ti vi, 01 giường gỗ.
Chị Võ Thị T P được nhận và s ở hữu các tài s ản gồm: 01 chi ếc xe máy hi ệu
Wave, 01 b ộ bàn ghế Salon gỗ, 01 máy gi ặt, 01 Lap top hi ệu DELL, 01 tủ gỗ nhỏ
(táp đờ ni).
2.2. Về bất động sản:
Không chấp nhận yêu c ầu của người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan có yêu
cầu đ ộc l ập ông Võ Văn T và nh ững người k ế thừa quyền, nghĩa v ụ tố tụng c ủa
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tr ần Thị B có yêu cầu độc lập gồm ông
Võ Hòai D, bà Võ Thị P T, bà Võ Thị T P, ông Võ Đức H, ông Võ Đức H, ông Võ
Đức H về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất (trên đất có căn nhà c ấp 4) tọa lạc
tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp
của ông T và những người thừa kế của bà Trần Thị B; đòi trả lại nhà đất và hủy Giấy
chứng nhận giấy quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất đối với thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50 (trên đ ất có căn nhà c ấp 4), số vào sổ
CGCN CH04820 do U ỷ ban nhân dân huy ện V cấp ngày 15/01/2013 cho anh Võ
Đức T và chị Nguyễn Thị T P.
Xác định nhà, đ ất tại thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2 tại
thôn Q 1, xã V, huyện V, Khánh Hòa là tài s ản chung c ủa anh Võ Đ ức T và chị
Nguyễn Thị T P.
Giao cho anh Võ Đ ức T được quyền sử dụng thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50,
diện tích 112,3m 2 tại thôn Q 1, xã V, huyện V tỉnh Khánh Hòa và được quyền sở
hữu 01 căn nhà trên đ ất có c ấu trúc: Nhà có t ầng l ửng, tường g ạch, n ền lát g ạch
men, hệ thống điện nước và hệ vệ sinh hòan chỉnh (có sơ đ ồ bản vẽ kèm theo), giá
trị thành tiền là: 1.331.714.805 đồng (Một tỷ ba trăm ba mươi m ốt triệu bảy trăm
mười bốn nghìn tám trăm lẻ năm đồng).
Anh Võ Đức T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục chuyển đổi người đứng tên nhà đất nói trên.
2.3. Phần thanh tóan: Anh Võ Đ ức T có nghĩa v ụ phải thanh tóan l ại cho ch ị
Nguyễn Thị T P giá trị tài sản nhà, đ ất được chia là 554.909.404 đ ồng (Năm trăm
năm mươi b ốn triệu chín trăm l ẻ chín nghìn b ốn trăm l ẻ bốn đồng) khi b ản án có
hiệu lực pháp luật.
Ngòai ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo và thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/4/2021 anh Võ Đức T kháng cáo và ngày 19/4/2021 ông Võ Văn T, bà
Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ
Đức H kháng cáo Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09
tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Chị Nguyễn Thị T P trình bày giữ nguyên đơn khởi kiện.
Anh Võ Đức T, ông Võ Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, anh Võ Đức H,
anh Võ Đức H, anh Võ Đức H trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Anh Võ Đức T trình bày: Đề nghị HĐXX hủy tòan bộ án bản án sơ thẩm để xét
xử sơ thẩm lại.
Luật sư Hà khánh Viễn trình bày: Tòa án sơ thẩm vi phạm tố tụng khi xác định
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của
bà B có yêu c ầu độc lập là trái pháp lu ật. Mà phải xác đ ịnh là người có quy ền lợi,
nghĩa vụ liên quan thừa kế trong phần di sản chung của bà B mà ông T tặng cho vợ
chồng anh T. Tòa án sơ thẩm không tiến hành xác minh những người đang ở trên đất
để đưa để các con anh T vào tham gia tố tụng; nguồn gốc thửa đất 581 là hộ gia đình
ông T, Biên bản định giá không có xác nh ận của UBND xã V; hợp đồng tặng cho
thửa 581 là vô hiệu, xác định chữ ký của ông T bà B là anh T giả chữ ký, khi ký hợp
đồng không có mặt chị P và chị P cũng không biết được tặng cho đất; hợp đồng tặng
cho đất này nhằm trốn thuế là vi phạm điều cấm. Đề nghị HĐXX hủy tòan bộ án bản
án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. Các ông bà Võ Văn T, Võ Đức H, Võ Đức H, Võ
Thị P T, Võ Hòai D, Võ Đức H thống nhất quan điểm của Luật sư Hà khánh Viễn.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và
việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý phúc thẩm
vụ án, đến trước thời điểm nghị án là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Kháng cáo của anh Võ Đức T, ông Võ Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ
Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H là trong thời hạn luật định.
Về nội dung vụ án: Qúa trình giải quyết vụ án ông T thừa nhận có ký vào Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất đối với thửa đất 581, còn bà B (vợ ông) không ký mà do ông tự ký là phù hợp với
kết quả giám định. Việc ông T cho rằng ông ký là do anh T lừa dối là không có căn
cứ. Vì Bản tự khai ngày 08/6/2018 ông T đã khẳng định: “… đối với diện tích đất
còn lại… vợ chồng tôi xây nhà để ở, sau này làm nhà từ đường để thờ cúng tổ tiên,
chứ vợ chồng tôi chưa hề tặng cho hay bán thửa đất này cho bất cứ ai. Nhưng sau đó
do không suy nghĩ kỹ, tôi có tự ký tên mình và giả chữ ký của vợ tôi…”. Sau khi
tách thửa 194 thành 2 thửa 581 và 582, năn 2005 ông T, bà B ký Hợp đồng chuyển
nhượng thửa 582 cho vợ chồng anh T, chị P. Năm 2006 ông T, bà B ký Hợp đồng
tặng cho vợ chồng anh T, chị P thửa 581. Cả hai Hợp đồng ông T đều ký thay bà B,
nên việc ông T nói bị anh T lừa dối là không có căn cứ. Vợ chồng anh T, chị P
chuyển nhượng thửa 582 không ai có ý kiến. Vợ chồng anh T, chị P sửa chữa ngôi
nhà, xin cấp đổi GCNQSDĐ và chung sống cùng ông T, bà B tất cả mọi người trong
gia đình đều không có ý kiến gì. Căn cứ án lệ số 03/2016, đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh Võ Đức T, ông Võ Văn T, bà Võ Thị
P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; trên cơ sở xem
xét đầy đủ, tòan diện chứng cứ, ý kiến của đương sự và của Kiểm sát viên.
NHẬ ỊNH C :
[1] Về tố tụng:
Ngày 14/4/2021 anh Võ Đức T kháng cáo và ngày 19/4/2021 ông Võ Văn T, bà
Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ
Đức H kháng cáo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09
tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Như vậy đơn kháng cáo của
các đương sự nêu trên là trong th ời hạn quy đ ịnh tại khỏan 1 Đi ều 273 c ủa Bộ luật
Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tố tụng đối với những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị B là có sự nhầm lẫn. Vì bà B được xác định
chết năm 2016, năm 2019 ch ị P mới khởi kiện ly hôn và chia tài s ản. Do đó nh ững
người này c ần được xác đ ịnh lại với tư cách là ngư ời có quy ền l ợi, nghĩa v ụ liên
quan. Tuy nhiên, s ự nhầm lẫn này không ảnh hư ởng đ ến quyền l ợi của đương s ự
trong vụ án.
[2] Xét kháng cáo:
[2.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T P không kháng
cáo; bị đơn là anh Võ Đức T chỉ kháng cáo về phần chia tài sản chung là bất động
sản. Như vậy, nội dung tranh chấp về quan hệ hôn nhân, nợ chung và tài sản chung
là động sản đã có hiệu lực pháp luật do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
[2.2] Xét nguồn gốc thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2 tọa lạc
tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa:
Bố mẹ anh Võ Đức T là ông Võ Văn T và bà Trần Thị B có tạo lập được thửa
đất số 194, tờ bản đồ số 18, diện tích 216m 2 đã được UBND huyện V cấp
GCNQSDĐ số I 733102, số vào sổ cấp GCN: 00437 ngày 13/7/1997 tọa lạc tại thôn
Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, ông T, bà B tách thửa đất số 194 thành
hai thửa đất số 581 có diện tích 158m2 và số 582 có diện tích 103m2.
Ngày 26/9/2005 ông Võ Văn T và bà Trần Thị B lập hợp đồng cho vợ chồng
chị Nguyễn Thị T P, anh Võ Đức T thửa đất số 582, diện tích 103m2 được UBND xã
V chứng thực ngày 07/10/2005. Thửa đất này vợ chồng chị Nguyễn Thị T P, anh Võ
Đức T sử dụng và sau này bán cho người khác.
Đối với thửa đất số 581 có diện tích 158m 2, ngày 11/10/2005 ông Võ Văn T và
bà Trần Thị B lập Hợp đồng tặng cho chị Ng uyễn Thị T P, anh Võ Đức T quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng có chữ ký của ông T, bà B và do ông
T ký thay bà B. Vợ chồng anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P đã làm thủ tục xin
cấp Giấy chứng nhận và thực tế đã 02 lần được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất tại số AM 434259 ngày 19/5/2008 và nay là số BN
286740 ngày 15/01/2013 đối với thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2
tọa lạc tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
[2.3] Trong quá t rình giải quyết vụ án bị đơn và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đều cho rằng Hợp đồng tặng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất ngày 11/10/2006 ông T ký thay bà B là không đúng pháp luật; anh T đã
lừa dối ông T và ông T bị lừa dối nên đã ký vào hợp đồng tặng cho. Do đó Hợp
đồng tặng cho này không hợp pháp.
Theo chị P cho rằng thực chất Hợp đồng tặng cho thửa đất 581 ngày
11/10/2006 là Hợp đồng chuyển nhượng và Hợp đồng này được ông T ký và ký thay
bà B. Sau đó cả ông T, bà B cùng chung sống với anh T, chị P trên thửa đất số 581
và bà B không khiếu nại, tranh chấp hay có ý kiến gì về việc ông T ký thay bà trên
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/10/2006. Còn anh T trình bày tại
phiên tòa cho rằng vợ chồng có sửa chữa ngôi nhà cũ của cha mẹ.
Xét thấy:
Tại Công văn số 1159/CCT -NVQLT ngày 16/8/2019 của Chi cục Thuế huyện
V xác định: Từ năm 2006 trở về trước (trước khi ký Hợp đồng tặng cho QSDĐ) ông
T là người thực hiện nộp thuế đối với thửa đất này. Từ năm 2007 trở về sau đến năm
2011 (sau khi ký Hợp đồng tặng cho QSDĐ) anh T là người thực hiện nộp thuế nhà,
đất. Từ 2012 thực hiện Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì anh T là người kê
khai và được miễn không phải nộp
Sau khi vợ chồng anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P ký Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất ngày 11/10/2006 thì anh T, chị P đã làm thủ tục xin cấp Giấy
chứng nhận và thực tế đã 02 lần được cấp GCN. Cụ thể: GCNQSDĐ, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số AM 4342 59 ngày 19/5/2008 và
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số số BN
286740 ngày 15/01/2013 đối với thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2
tọa lạc tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Ông T, bà B không có ý kiến gì
về việc anh T, chị P làm thủ tục xin cấp, cấp lại giấy chứng nhận. Trong khi, UBND
huyện V khẳng định việc cấp, cấp lại giấy chứng nhận được tổ chức rộng rãi, công
khai đến tòan dân theo Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ -CP ngày 29/10/2004
của Chính phủ.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Án lệ số 03/2016 và xác định thửa đất
số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2 và căn nhà cấp 4 tọa lạc tại thôn Q 1, xã
V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa là tài sản chung của vợ chồng anh Võ Đức T, chị
Nguyễn Thị T P là có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T P đề nghị chia tài sản
chung và xin nhận bằng giá trị. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá tài sản và
quyết định chia quyền sử dụng đất có giá trị 1.109.479.800đ với tỷ lệ 60 -40 (anh T
60%, chị P 40%); chia tài sản trên đất có giá trị 222.235.005đ với tỷ lệ 50-50.
Xét thấy: Về nguồn gốc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất được hình thành
từ tài sản của cha mẹ anh T là ông T, bà B tạo lập trước khi anh T và chị P kết hôn
với nhau. Quá trình hỏi tại phiên tòa phúc thẩm đã xác định chị P là người không có
việc làm, không có thu nhập ổn định; còn anh T là lao động chính và có thu nhập ổn
định đảm bảo nuôi sống gia đình. Đồng thời anh T còn trực tiếp phải nuôi dưỡng
ông Võ Văn T và thờ cúng bà B. Do đó, khi giải quyết cần xem xét đánh giá đến
nguồn gốc, công sức đóng góp của các bên để chia khối tài sản chung của anh T, chị
P cho phù hợp và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của hai bên. Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy cần chia lại với tỷ lệ như sau: Quyền sử dụng đất có giá trị
1.109.479.800đ chia với tỷ lệ 70 -30 (anh T 70% là 776.635.860đ, chị P 30% là
332.843.940đ); tài sản trên đất có giá trị 222.235.005đ chia với tỷ lệ 50 -50 (anh T
50% là 111.117.502, chị P 50% là 111.117.502) là có căn cứ.
Chị Nguyễn Thị T P yêu cầu nhận bằng gía trị. Do đó, giao cho anh Võ Đức T
được quy ền s ử dụng, s ở hữu đ ối v ới thửa đ ất s ố 730, t ờ bản đ ồ số 50, di ện tích
112,3m2 tại thôn Q 1, xã V, huyện V tỉnh Khánh Hòa và 01 căn nhà trên đ ất có cấu
trúc: Nhà có t ầng lửng, tường gạch, nền lát gạch men, hệ thống điện nước và hệ vệ
sinh hòan chỉnh (có sơ đồ bản vẽ kèm theo) giá trị thành tiền là 1.331.714.805 đồng
(một tỷ ba trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm mười bốn nghìn tám trăm lẻ năm đồng).
Đồng thời, anh Võ Đức T có nghĩa v ụ phải thanh tóan l ại cho ch ị Nguyễn Thị T P
tổng giá trị tài sản được chia là 443.961.442 đồng (bốn trăm bốn mươi ba triệu chín
trăm sáu mốt nghìn bốn trăm bốn hai đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Tại phiên tòa xét xử hôm nay, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu
chứng cứ mới. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của anh
Võ Đức T. Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ
Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, sửa bản án
sơ thẩm.
[4] Án phí:
Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí chia tài sản chung phải tính lại cho phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm anh Võ Đức T không phải chịu; ông Võ Văn T, bà Võ
Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức
H phải chịu theo quy định.
Chị P không có việc làm và chỗ ở ổn định nên giảm ½ án phí chia tài sản cho
chị P. Đơn xin miễn giảm án phí của anh T không có xác nhận của chính quyền địa
phương nên không xét.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾ Ị :
1. Căn cứ vào khỏan 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của anh Võ Đức T. Không chấp nhận kháng cáo c ủa ông Võ
Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức
H, anh Võ Đức H, sửa bản án sơ thẩm.
2. Áp d ụng Điều 33; Điều 38; Điều 51; Điều 55; điểm b, c kho ản 2, khỏan 3
Điều 59; khỏan 2 Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 213; Điều 219; Điều
223 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Án lệ số 03/2016/AL. Điều 147; Điều 165 của
Bộ luật Tố tụng dân s ự năm 2015 . Nghị quyết s ố 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị
T P và anh Võ Đức T.
2.2. Về quan hệ tài sản chung:
2.2.1. Về động sản: Công nhận sự thỏa thuận của các đương s ự về việc phân
chia tài sản là những động sản. Cụ thể:
Anh Võ Đ ức T được nhận và s ở hữu các tài s ản gồm: 01 chiếc xe máy hi ệu
Nouvo, 01 máy điều hòa, 01 Tủ lạnh, 01 Ti vi, 01 giường gỗ.
Chị Võ Thị T P được nhận và s ở hữu các tài s ản gồm: 01 chi ếc xe máy hi ệu
Wave, 01 b ộ bàn ghế Salon gỗ, 01 máy gi ặt, 01 Lap top hi ệu DELL, 01 tủ gỗ nhỏ
(táp đờ ni).
2.2.2. Về bất động sản:
Không chấp nhận yêu c ầu của người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan có yêu
cầu độc lập ông Võ Văn T, ông Võ Hòai D, bà Võ Th ị P T, bà Võ Thị T P, anh Võ
Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H về yêu cầu công nh ận quyền s ử dụng đất
(trên đất có căn nhà c ấp 4) to ạ lạc tại thôn Q 1, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa
thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp c ủa ông Võ Văn T, ông Võ Hòai D, bà Võ
Thị P T, bà Võ Th ị T P, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H; đòi trả lại
nhà đất và hủy Giấy chứng nhận giấy quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác g ắn liền với đất đối với thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50 (trên đ ất có căn
nhà c ấp 4), số vào s ổ CGCN CH04820 do U ỷ ban nhân dân huy ện V cấp ngà y
15/01/2013 cho anh Võ Đức T và chị Nguyễn Thị T P.
Xác định nhà, đ ất tại thửa đất số 730, tờ bản đồ số 50, diện tích 112,3m 2 tại
thôn Q 1, xã V, huyện V, Khánh Hòa là tài s ản chung c ủa anh Võ Đ ức T và chị
Nguyễn Thị T P.
Giao cho anh Võ Đức T được quyền sử dụng, sở hữu thửa đất số 730, tờ bản đồ
số 50, diện tích 112,3m2 tại thôn Q 1, xã V, huyện V tỉnh Khánh Hòa và 01 căn nhà
trên đất có cấu trúc: Nhà có t ầng lửng, tường gạch, nền lát gạch men, hệ thống điện
nước và h ệ vệ sinh hòan ch ỉnh (có sơ đ ồ bản v ẽ kèm theo), giá tr ị thành ti ền là
1.331.714.805 đồng (một t ỷ ba trăm ba mươi m ốt triệu bảy trăm mư ời b ốn nghìn
tám trăm lẻ năm đồng).
Anh Võ Đức T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục chuyển đổi người đứng tên nhà đất nói trên.
2.2.3. Phần thanh tóan: Anh Võ Đ ức T có nghĩa vụ phải thanh tóan l ại cho chị
Nguyễn Thị T P giá trị tài sản nhà, đất được chia là 443.961.442 đồng (bốn trăm bốn
mươi ba triệu chín trăm sáu mốt nghìn bốn trăm b ốn hai đồng) khi bản án có hi ệu
lực pháp luật.
3. Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T P phải chịu 300.000đ án phí sơ
thẩm về ly hôn và 10.879.228đ án phí chia tài sản chung. Tổng cộng chị P phải chịu
là 11.179.228đ. Được trừ vào số tiền chị P đã nộp tạm ứng là 8.350.000đ theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013990 ngày 05/02/2018 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh khánh Hòa, chị Nguyễn Thị T P còn phải nộp
là 2.829.228đ. Anh Võ Đức T phải chịu 38.632.600đ án phí chia tài sản chung.
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Võ Đức T không phải chịu, hòan trả cho anh T
300.000đ đã n ộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2016/0013990 ngày 05/02/2018 của Cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh
khánh Hòa. Ông Võ Văn T, bà Võ Thị P T, ông Võ Hòai D, bà Võ Thị T P là người
lớn tuổi nên đư ợc miễn. Anh Võ Đức H, anh Võ Đức H, anh Võ Đức H phải chịu
mỗi người 300.000đ, được trừ vào số tiền anh H, anh H, anh H đã nộp theo các Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009731, số AA/2021/0009732, số
AA/2021/0009733 cùng ngày 05/ 5/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh khánh
Hòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
à viê i đồ g xét xử ẩm á – ủ tọa iê tòa
(Đã ký) (Đã ký)
Lê guyễ ă iế rầ Quố ườ g
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
