Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 156/2022/QĐ-PT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 156/2022/QĐ-PT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 03/2016/AL
Ngày thông qua 2020-09-10
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Dân sự
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hòang Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Phan Nhựt Bình

  • Thư ký phiên tòa : Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân c ấp cao tại Thành ph ố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 và 15 tháng 3 n ăm 2022, tại trụ sở Tò a án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia

đình thụ lý số 17/2020/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh

chấp chia tài sản sau ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ th ẩm số 06/2020/HNGĐ-ST ngày 25 tháng

3 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 156/2022/QĐ-PT ngày

16 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hòang Tr, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp T, xã A,

thị xã B, tỉnh Bình Dương. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Hữu T , sinh năm

1990; Địa chỉ liên lạc: đường Tr, Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh –

Văn bản ủy quyền ngày 10/09/2020, số 16104, quyển số 9, lập tại Phòng công

chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Dương

Thành C – Đòan Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

  • Bị đơn: Bà Đỗ Thị Mai O, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu phố 3, phường M,

thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

(có mặt)

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Bà Nguyễn Thị Ánh M, sinh năm 1954; địa chỉ: đường DX 65, tổ 31, khu

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 05/2022/HNGĐ-PT

Ngày 15 – 3 – 2022

V/v Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

phố 4, phường Đ, thành phố Th, tỉnh Bình Dương. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2/. Bà Nguyễn Thị Bạch C, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện C, tỉnh

Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Bà Lê Na, sinh năm 1973; Địa chỉ

thường trú: phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ liên hệ: ấp 4, xã P, huyện C,

tỉnh Long An – Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2022, công chứng số 208, quyển số

01-2022-SCT/CK, ĐC, tại Phòng công chứng C. (có mặt)

3/. Bà Nguyễn Thị Thu H , sinh năm 1959; địa chỉ: M S G 2161 Australia.

(vắng mặt)

4/. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ 12, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh

Bình Dương. (vắng mặt)

5/. Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1968; địa chỉ: L Street, C P NSW 2200

Australia. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà H, bà S, bà T: Bà Nguyễn Thị Ánh M

(văn bản ủy quyền ngày 04/11/2019, 06/11/2019, 04/12/2019). (có đơn xin xét xử

vắng mặt)

6/. Ông Đỗ Bá K, sinh năm 1938, địa chỉ: Tổ 11, khu phố 3, phường M, thị

xã B, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

7/. Chị Nguyễn Đỗ Hòai D, sinh năm 1992, địa chỉ: số 48, ấp T, xã A, thị xã

B, tỉnh Bình Dương. (có mặt)

  • Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hòang Tr, bà Nguyễn Thị Ánh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Hòang Tr trình bày:

  • Về hôn nhân: Ông Tr và bà O chung sống với nhau từ năm 1991, hôn nhân

hòan tòan tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 26 t háng 12 năm 1991 tại Ủy

ban nhân dân xã (nay là phường) M, huyện (nay là thị xã) B, tỉnh Bình Dương. Quá

trình chung sống cả hai có 01 con chung tên Nguyễn Đỗ Hòai D , sinh năm 1992.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều mâ u

thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Do đó ông Tr làm đơn yêu cầu ly

hôn với bà O. Quá trình Tòa án giải quyết thì bà O phản tố yêu cầu chia tài sản

gồm: Diện tích đất 16.912,4m2 thuộc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 15 tọa lạc ấp T,

xã A, thị x ã B, tỉnh Bình Dương; trên đất có 01 căn nhà cấp 4 xây dựng khỏang

năm 2005; 03 chuồng heo, 01 chuồng gà; 03 xe ôtô tải biển số 61C – 124.52, 61C-

128.64 và 61H -9361. Đối với các tài sản mà bà O yêu cầu chia ông Tr có ý kiến

như sau:

+ Đất: Có nguồn gốc là c ủa mẹ ruột ông Tr là bà Nguyễn Thị L tặng cho

riêng ông Tr vào năm 2005. Ngày 28/11/2005, Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND)

huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số AD

608268, vào sổ số HQ.0767 cho hộ ông Nguyễn Hòang Tr. Năm 2016, ông Tr làm

thủ tục chuyển mục đích sử dụng đối với 100m 2 đất trồng cây lâu năm thành đất ở

(ghi nợ tiền sử dụng đất). Ngày 03/6/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình

Dương cấp lại GCNQSDĐ số CB 949712, vào sổ số CS06717 cấp cho cá nhân ông

Tr đứng tên. Đây là tài sản riêng của ông Tr nên ông Tr không đồng ý yêu cầu của

bà O về việc chia diện tích đất nêu trên.

+ 01 căn nhà cấp 4 xây dựng khỏang năm 2005: Khi xây nhà, bà L cho

150.000.000 đồng, chị ruột của ông Tr cho 50.000.000 đồng, ông Đỗ Bá K (cha bà

O) cho 200.000.000 đồng, khỏan còn lại là tiền của vợ chồng. Tổng cộng số tiền

xây nhà là 500.000.000 đồng. Mặc dù ông K có cho 200.000.000 đồng xây dựng

nhà nhưng vì ông K không thừa nhận đã bán xe ôtô tải hiệu Huyndai, biển số 61H –

8330 cho vợ chồng ông Tr, bà O nên ông Tr cấn trừ vào khỏan tiền cho xây nhà và

khỏan đó thuộc quyền sở hữu riêng của ông Tr. Ông Tr không đồng ý yêu cầu chia

½ giá trị căn nhà cho bà O.

+ 03 chuồng heo, 01 chuồng gà: Là tài sản chung của vợ chồng, ông Tr đồng

ý cho bà O tháo dỡ 03 chuồng heo, còn chuồng gà để lại cho ông Tr sử dụng.

+ Các xe ôtô tải biển số 61C – 124.52, 61C- 128.64 và 61H-9361: Đây là tài

sản chung của vợ chồng, ông Tr đồng ý chia cho bà O 1/3 giá trị, ông Tr lấy giá trị

bằng tiền, bà O lấy hiện vật và có trách nhiệm hòan lại phần giá trị tài sản cho ông

Tr.

  • Về nợ chung: Ông Tr khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải

quyết.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2017/HNGĐ -ST ngày 20

tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương tuyên xử: “Công

nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Hòang Tr và bà Đỗ Thị Mai O …” và

Con chung đã trưởng thành nên Tòa không xem xét”. Ngòai ra bản án trên còn

phân chia tài sản tranh chấp giữa ông Tr và bà O.

Sau khi án sơ thẩm tuyên, ông Tr kháng cáo tòan bộ bản án, bà O kháng cáo

một phần về tài sản chung. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Tr rút một phần kháng

cáo, chỉ kháng cáo về phần chia tài sản.

Tại Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 48/2017/HNGĐ -PT ngày 25

tháng 12 năm 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

1/. Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn

ông Nguyễn Hòang Tr về quan hệ hôn nhân.

2/. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn

Hòang Tr và chấp nhận yêu cầu kháng c áo của bị đơn bà Đỗ Thị Mai O về tranh

chấp tài sản khi ly hôn.

Hủy một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 28/2017/HNGĐ – ST

ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương về tranh

chấp tài sản khi ly hôn. Chuyển hồ sơ vụ á n cho Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh

Bình Dương giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu

lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ngòai ra, bản án phúc thẩ m còn tuyên về nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng và án

phí phải nộp.

Vụ việc được chuyển về Tòa án nhân dân thị xã B xét xử lại về phần tài sản;

sau đó Tòa án nhân dân thị xã B chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Dương đề giải quyết theo thẩm quyền.

Nay ông Tr yêu cầu không chấp nhận yêu cầu chia nhà và quyền sử dụng đất

của bà O; chấp nhận chia tài sản là xe ô tô, chuồng heo, chuồng gà.

Bị đơn bà Đỗ Thị Mai O trình bày:

  • Về hôn nhân và con chung: Bà O thống nhất với lời trình bày của ông Tr.

Bà O đã ly hôn với ông Tr theo quyết định của Tòa án. Con chung đã trưởng thành.

  • Tài sản chung của vợ chồng: Quá trình chung sống, bà O và ông Tr tạo lập

được số tài sản chung gồm:

+ Diện tích đất 16.912,4m 2 thuộc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 15: Đất có

nguồn gốc của mẹ ruột ông Tr tên Nguyễn Thị L (đã chết năm 2013). Sau khi kết

hôn năm 1991, bà O về ở trên đất tranh chấp cho đến nay. Vào năm 2003, bà L chia

đất làm 07 phần cho 07 người con: Bà Nguyễn Thị Ánh M, bà Nguyễn Thị Bạch C,

bà Nguyễn Thị Thu H , bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Hòang Tr , bà Nguyễn Thị

Ánh T và ông Nguyễn Văn Th. Việc bà L chia đất cho các con không lập thành văn

bản. Sau đó, bà T có bán phần được chia cho vợ chồng bà O với giá 20 (hai mươi)

lượng vàng. Bà O trực tiếp giao vàng cho bà T. Việc này không lập thành văn bản.

Bà O không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc này. 04 người chị

em của ông Tr được chia đất là bà M, bà C, bà S và ông Th đều bán phần đất được

chia cho người chị tên Nguyễn Thị Thu H (hiện định cư ở Australia). Sau đó bà H

bán tất cả (tức 05 phần đất) cho vợ chồng ông Tr với giá 100 lượng vàng. Việc

phân chia đất và chuyển nhượng giữa các anh chị em trong gia đình không có lập

thành văn bản. Vợ chồng bà O, ông Tr cũng không có vàng để trả cho bà H cùng 01

lúc mà trả dần, trả cho đến năm 2012 thì hết nợ. Việc chuyển nhượng đất giữa bà H

và vợ chồng bà O, ông Tr cũng như việc trả góp 100 lượng vàng cũng không có lập

thành văn bản. Hàng năm, bà H về nước thì vợ chồng bà O, ông Tr đưa trực tiếp

cho bà H.

Năm 2005, bà L làm thủ tục sang tên trên GCNQSDĐ cho ông Tr, bà O có

biết nhưng không có ý kiến gì vì cho là của chung vợ chồng. Khi đất vào quy

họach, vợ chồng cùng ký tên vào hồ sơ đền bù và cùng ký nhận tiền, số tiền đền bù

dùng trả ngân hàng (do trước đó vợ chồng vay ngân hàng để trả bà H). Việc ông Tr

yêu cầu UBND thị xã B đính chính thông tin về người sử dụng đất trên GCNQSDĐ

từ hộ ông Nguyễn Hòang Tr sang cá nhân ông Nguyễn Hòang Tr và xin chuyển

100m2 trồng cây lâu năm sang đất ở thì bà O không biết. Bà O không có ý ki ến gì

về những việc này.

Bà O xác định diện tích đất tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng, yêu

cầu được chia 1/2 diện tích đất, chia bằng hiện vật.

+ Tài sản gắn liền với thửa đất số 145:

01 căn nhà cấp 4 diện tích 220m 2. Nhà xây dựng năm 2005, tổng số tiền bỏ

ra để xây nhà là 500.000.000 đồng, trong đó của bà L cho 150.000.000 đồng, ông K

cho 200.000.000 đồng, còn lại 150.000.000 đồng là tiền của vợ chồng dành dụm và

mượn của bà H (đã trả xong), việc cha mẹ hai bên cho tiền không lập thành văn

bản.

02 chuồng trại chăn nuôi heo: Mỗi trại diện tích khỏang 200m 2, xây dựng

năm 2000. Chuồng trại xây dựng để chăn nuôi heo nái và heo thịt với số lượng lớn.

01 chuồng trại chăn nuôi gà, diện tích khỏang 200m 2, chuồng trại xây dựng

để chăn nuôi gà Đông Tảo với số lượng lớn (khỏang 2.000 con).

Hiện nay, vì bảo vệ môi trường nên các trại này không chăn nuôi số lượng

lớn được, hiện không còn chăn nuôi. Bà O yêu cầu được chia ½ giá trị nhà ở,

chuồng trại, nhà tiền chế, nhà cũ.

Các cây trồng, công trình phụ khác gắn liền với thửa đất số 145: Bà O không

tranh chấp.

+ Xe tải: Có 03 chiếc gồm 01 xe ôtô tải, biển số 61C1 -124.52 do bà Đỗ Thị

Mai O đứng tên trên giấy đăng ký; 01 xe ôtô tải biển số 61C-128.64 do ông Nguyễn

Hòang Tr đứng tên trên giấy đăng ký; 01 xe ôtô tải biển s ố 61H -9361 do ông

Nguyễn Hòang Tr đứng tên trên giấy đăng ký. Hiện bà O đang quản lý sử dụng các

xe ôtô tải nêu trên nhưng sử dụng rất ít và chỉ sử dụng 01 chiếc. Bà O yêu cầu nhận

xe biển số 61C 1-124.52 và ông Tr nhận 02 xe còn lại, ông Tr thanh tóan lại giá trị

chênh lệch cho bà O.

  • Về nợ chung: Không có.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị

Ánh M trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn S

và bà Nguyễn Thị L, sau khi ông S chết đến năm 1989, bà L phân chia cho 7 người

con, đến năm 2000 bà L tiến hành đăng ký kê khai và được cấp GCNQSDĐ. Năm

1990, người em là Nguyễn Thị Thu H từ Úc gởi tiền về để trồng cao su trên phần

đất này. Năm 2004 bà L bán 01 căn nhà ở Th để lấy tiền cất căn nhà th ờ cúng trên

phần đất này.

Khỏang năm 2005, ông Tr cần tiền kinh doanh nên ông Tr đề nghị bà L và

các chị em cho ông Tr tạm thời mượn sổ đỏ để vay vốn ngân hàng và ông Tr đề

nghị được đứng tên sổ đỏ để thuận tiện cho việc vay ngân hàng. Vì tin tưởng ông

Tr nên gia đình cho ông Tr đứng tên GCNQSDĐ và ông Tr có làm cam kết xác

nhận phần đất là tài sản chung của chị em trong gia đình, vì vậy bà L làm thủ tục

sang tên sổ đỏ cho ông Tr và ông Tr được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ vào

ngày 28/11/2005. Sau đó ông Tr dùng sổ đỏ thế chấp để vay vốn ngân hàng.

Trong thời gian thế chấp thì vào năm 2011 và 2014 khu đất bị giải tỏa một

phần để mở rộng đường giao thông và ông Tr được đền bù số tiền 1.654.454.128

đồng nhưng cũng chưa chia cho chị, em (số tiền 1.654.454.128 đồng là của 6 người

gồm ông Tr, bà M, bà H, bà T, bà S, bà C). Vì vậy bà M yêu cầu chia số tiền trên

cho các chị em trong gia đình, cụ thể: Bà M yêu cầu được nhận phần tiền của bà M,

bà H, bà T, bà S, bà C là 5/6 x 1.654.454.128 đồng =1.378.711.773 đồng.

Năm 2015, bà Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Thị Ánh T từ Úc về Việt Nam

nên các chị em trong nhà đã họp lại xác định đất đai sau khi giải tỏa đền bù còn lại

diện tích là 16.912m 2 và lập văn bản “xác nhận và cam kết về tài sản chung” vào

ngày 27/5/2015 v ới nội dung chúng tôi xác nhận phần đất nêu trên là tài sản của

cha mẹ, là tài sản chung chưa chia của chị em trong gia đình, ông Tr chỉ là người

đại diện đứng tên GCNQSDĐ cho chị, em; ông Tr không được chuyển nhượng,

tặng cho, cầm cố và không sáp nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng ông Tr.

Nay bà M yêu cầu Tòa án công nhận nhà, đất nêu trên là tài sản chung của

chị em bà M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan c ó yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị

Thu H trình bày:

Phần đất ông Tr, bà O tranh chấp có nguồn gốc của cha, mẹ là ông Nguyễn

Văn S (chết năm 1982), bà Nguyễn Thị L (chết năm 2013). Diện tích khỏang

19.000m2, trên đất có căn nhà cấp 4. Ngày 17/01/2000, UBND huyện B cấp

GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị L với diện tích 19.925m2. Sau khi được cấp đất, bà

L có họp gia đình và phân chia đất cho 07 người con là bà M, bà C, bà H, bà S, ông

Tr, bà T và ông Th.

Khỏang năm 2005, ông Tr cần tiền kinh doanh nên ông Tr đề nghị bà L và

các chị em cho ông Tr tạm thời mượn sổ đỏ để vay vốn ngân hàng và ông Tr đề

nghị được đứng tên sổ đỏ để tiện việc vay ngân hàng. Vì tin tưởng ông Tr nên gia

đình cho ông Tr đứng tên GCNQSDĐ và ông Tr có làm cam kết xác nhận phần đất

là tài sản chung của chị em trong gia đình, vì vậy bà L làm thủ tục sang tên sổ đỏ

cho ông Tr và ông Tr được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ vào ngày 28/11/2005.

Trong thời gian ông Tr đứng tên quyền sử dụng đất, ông Tr được nhà nước đền bù

đất do đất bị giải tỏa làm đường nhưng ông Tr cũng không chia cho chị em số tiền

trên.

Nay ông Tr ly hôn với vợ là bà O và yêu cầu phân chia đất của vợ chồng là

không hợp pháp. Do vậy bà H yêu cầu công nhận phần đất trên cho các chị em bà

H gồm 6 người: Bà M, bà C, bà S, bà H, ông Tr, bà T.

Ngòai ra, vào tháng 11/2003 bà H còn cho vợ chồng bà O, ông Tr vay 100

lượng vàng chín tuổi rưỡi (9,5 tuổi), việc vay mượn có đến Phòng Công chứng số 1

tỉnh Bình Dương lập hợp đồng và được công chứng. Bà O và ông Tr có hứa trả 02

lần mỗi lần 50 lượng vàng vào các ngày 21/12/2005 và 21/12/2007. Tuy nhiên, ông

Tr, bà O không thực hiện đúng như cam kết mà đến ngày 14/5/2009 mới thanh tóan

được 27 lượng vàng, việc này có lập hợp đồng thương lượng và bà O, ông Tr tiếp

tục hứa sẽ thanh tóan 73 lượng còn lại làm 02 đợt vào các ngày 14/5/2010 và ngày

14/5/2011. Mặc dù cam kết như trên nhưng bà O và ông Tr vẫn không thanh tóan

như đã hứa mà chỉ thanh tóan thêm được có 05 lượng vàng tính đến ngày

26/3/2011.

Hiện nay bà O và ông Tr còn nợ bà H 68 lượng vàng. Bà H yêu cầu ông Tr,

bà O phải thanh tóan số nợ trên.

Bà Nguyễn Thị Ánh T ủy quyền cho bà M và thống nhất lời trình bày của bà

M.

Bà Nguyễn Thị S trình bày: Thống nhất nội dung bà M đã trình bày.

Bà Nguyễn Thị Bạch C trình bày: Thống nhất nội dung bà M đã trình bày;

đồng thời bà C xác định ông Th chết vào năm 1995 vì tai nạn giao thông và chưa có

vợ con.

Ông Đỗ Bá K trình bày: Ông K là cha ruột bà O và là cha vợ ông Tr sau khi

bà O và ông Tr chung sống với nhau vào năm 1991. Năm 2005, đất của gia đình

ông Tr vào quy họach nên ông K có cho bà O, ông Tr số tiền 200.000.000 đồng để

xây nhà ở, đó là căn nhà hiện nay. Đến năm 2007, ông K tiếp tục cho bà O, ông Tr

01 chiếc xe tải hiệu HuynhDai biển số 61H – 8330, hiện nay xe này vẫn đứng tên

ông K. Nay bà O, ông Tr tranh chấp tài sản chung thì ông K không có ý kiến và yêu

cầu gì. Ông K đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.

Ý kiến của bà Nguyễn Đỗ Hòai D: Về diện tích đất tranh chấp là do ông Tr,

bà O mua lại của các chị em ông Tr. Cụ thể năm 2003, bà D có chứng kiến bà H

cùng bà T về nước bán phần đất mà bà H đã mua trước đó của bà M, bà C, bà S và

ông Th cho vợ chồng bà O, ông Tr. Vợ chồng bà O, ông Tr đã thanh tóan cho bà H

160.000.000 đồng, số nợ còn lại có lập văn bản hẹn trả bằng vàng. Năm 2012, sau

khi ký vay vốn ngân hàng thành công, cha mẹ bà D đã thanh tóan dứt điểm số nợ

và hẹn bà H về nước để hòan tất thủ tục nhưng bà H không về. Năm 2012, gia đình

ông Tr, bà M được thông báo đền bù đất giải tỏa nhưng sổ đỏ vẫn còn thế chấp ở

ngân hàng nên bà O đã vay tiền đế bù vào số tiền 2 tỷ đồng đã vay. Việc ông Tr tự

ý sang tên sổ đất từ ông hộ ông Tr sang cho cá nhân ông Tr đứng tên thì không ai

biết. Bà D xác định bà O là người trực tiếp kinh doanh tạo lập ra thu nhập để trả

tiền mua đất. Vì vậy bà D đề nghị phân chia cho ông Tr và bà O mỗi người một nửa

tài sản mà hai bên tranh chấp.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2020/HNGĐ -ST ngày 25 tháng

3 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Các Điều 28, 147, 235, 266, 271, 273 và 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều

25 và 27 Luật Hôn nhân v à gia đình năm 2000; Điều 29, khỏan 1 và khỏan 2 Điều

33, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;

Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2005; Án lệ số 03/2016 của Hội đồng Thẩm phán

Tòa án nhân dân tối cao.

Nghị quyết số 326/UBTVQH 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án,

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn của ông

Nguyễn Hòang Tr và đơn phản tố yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn của bà Đỗ

Thị Mai O.

2/. Chia tài sản chung của ông Nguyễn Hòang Tr , bà Đỗ Thị Mai O sau ly

hôn cụ thể như sau:

  • Ông Nguyễn Hòang Tr được chia:

+ Diện tích đất: 9.020,7m2, trong đó có 150 m2 thổ cư (là phần A trong sơ đồ

bản vẽ kèm theo). Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 diện tích 211,4m2; kết cấu mái ngói

tây, nền gạch men, tường xây tô. Một căn nhà cũ mái tôn, nền xi măng có diện tích

64,9m2; 01 căn nhà tiền chế khung sắt, mái tole, nền đất có diện tích 202,7m 2; 02

dãy chuồng trại Al, A2 có diện tích 449,2m2 và tòan bộ cây trồng, vật kiến trúc gắn

liền trên đất.

+ 02 chiếc xe ô tô biển số 61C-128.64 và biển số 61H-9361.

Tổng giá trị ông Nguyễn Hòang Tr được chia: 13.420.833.000 đồng (mười

ba tỷ bốn trăm hai mươi triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).

  • Bà Đỗ Thị Mai O được chia:

+ Diện tích đất: 7.891,7m2, trong đó có 150m2 đất thổ cư (là phần B trong sơ

đồ bản vẽ kèm theo). Trên đất có 02 dãy chuồng trại A3, A4 có diện tích 568,6m 2

và tòan bộ cây trồng, vật kiến trúc gắn liền trên đất.

+ 01 chiếc xe ô tô biển số 610-124.52.

Tổng giá trị bà Đỗ Thị Mai O được chia: 11.875.498.000 đồng (mười một tỷ

tám trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Buộc ông Nguyễn Hòang Tr phải thanh tóan cho Đỗ Thị Mai O số tiền

324.789.000 đồng (ba trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng)

giá trị chênh lệch tài sản.

Bà Đỗ Thị Mai O và chị Nguyễn Đỗ Hòai D được lưu cư trong căn nhà cấp 4

có diện tích 211,4m2 nêu trên trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực

pháp luật.

3/. Không chấp nhận yêu cầu chia tiền đền bù đất của bà Nguyễn Thị Ánh M

đối với số tiền 1.646.454.128 đồng (một tỷ sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm

năm mươi bốn nghìn một trăm hai mươi tám đồng).

4/. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ánh M đối với yêu

cầu công nhận diện tích 16.912,4m 2 đất là tài sản chung chưa chia của các ông, bà:

Nguyễn Thị Ánh M , Nguyễn Thị Bạch C , Nguyễn Thị S , Nguyễn Thị Thu H ,

Nguyễn Hòang Tr, Nguyễn Thị Ánh T.

5/. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu

ông Nguyễn Hòang Tr, bà Đỗ Thị Mai O thanh tóan khỏan nợ 68 lượng vàng 9,5

tuổi. Buộc ông Nguyễn Hòang Tr , bà Đỗ Thị Mai O liên đới thanh tóan cho bà

Nguyễn Thị Thu H 68 lượng vàng 9,5 tuổi.

Ngòai ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, các chi phí tố tụng khác,

việc thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/4/2020, nguyên đơn ông Nguyễn Hòang Tr có đơn kháng cáo tòan

bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 06/4/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh

M có đơn kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập

của bà M.

Ngày 22/12/2021 và ngày 05/6/2021, bà Nguyễn Thị Ánh M có đơn xin rút

lại tòan bộ yêu cầu kháng cáo và xin được vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Văn

Bản được Văn phòng công chứng N và Văn phòng công chứng số 2, Thành phố Hồ

Chí Minh công chứng, chứng thực.

Tại phiên tòa phúc th ẩm, ông Nguyễn Hòang Tr vẫn gi ữ nguyên yêu c ầu

kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất tranh ch ấp là tài

sản chung c ủa các ch ị em ông Tr; không buộc ông liên đ ới với bà O hòan trả vàng

cho bà H mà chia đều mỗi người có nghĩa vụ trả ½.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tr trình bày: Nguồn gốc đất

tranh chấp do gia đình ông Tr tạo lập. Năm 2000, hộ gia đình ông Tr được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất do bà L đứng tên đ ại diện. Do ông Tr cần vốn kinh

doanh nên bà L và các anh chị em trong gia đình sang tên lại giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho ông Tr để ông Tr thế chấp vay vốn tại ngân hàng. Thực tế, quyền sử

dụng đất tranh chấp là tài sản chung của các anh chị em ông Tr. Năm 2015 ông Tr có

làm văn b ản cam k ết đó là tài s ản chung c ủa các anh ch ị em. Bà O cho rằng 100

lượng vàng mư ợn của bà H là tiền mua đ ất và đã thanh tóan đ ủ cho bà H nhưng

không cung c ấp được chứng cứ chứng minh. Th ời điểm ký h ợp đồng công ch ứng

vay tiền của bà H trùng với thời điểm ông Tr mở rộng chuồng trại chăn nuôi và mua

xe ô tô tải nên lời trình bày của ông Tr xác định vợ chồng ông mượn 100 lượng vàng

để kinh doanh là có sở sở. Căn nhà xây dựng trên đất bà L có góp một phần tiền, sau

khi xây dựng xong thì bà L và bà S vẫn ở trên đất này. Tòa án cấp sơ thẩm xác định

đây là tài s ản chung của vợ chồng, áp dụng Án lệ số 03 để giải quyết là không phù

hợp bởi lẽ nguyên tắc áp dụng án lệ là tình tiết sự kiện phải giống nhau. Ông Tr đồng

ý chia cho bà O phần diện tích đ ất 1.200m2; không bu ộc ông và bà O liên đới trả

vàng cho bà H mà phân định rõ mỗi bên trả 34 lượng vàng; về tài sản trên đất ông Tr

đồng ý với án sơ thẩm.

Bà Đỗ Thị Mai O trình bày: Bà O và ông Tr có ký gi ấy vay vàng v ới bà H

nhưng thực tế bà O không nhận vàng từ bà H. Hai bên th ỏa thuận mua bán nhà; s ố

vàng còn n ợ chính là s ố tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà O, ông Tr

còn phải trả cho bà H. Sau đó, bà O đã trả hết số nợ trên. Do cùng là chị em trong gia

đình nên không lập thành văn bản. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông

Tr, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao phát bi ểu quan điểm giải quyết vụ

án:

  • Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  • Về nội dung: Quyền sử dụng đất tranh chấp nguồn gốc của gia đình bà L;

bà L đại diện đứng tên. Sau đó các chị em trong gia đình ủy quyền lại cho ông Tr

đứng tên. Đây không phải là tài sản chung của vợ chồng ông Tr. Bà O yêu cầu

được chia ½ quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Bà O cho rằng số vàng nợ bà H

là tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không cung cấp được chứn g

cứ chứng minh. Về tài sản chung trên đất, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là đúng

quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng chia cho

bà O được hưởng phần diện tích 1.200m2 (60mx20m); ông Tr, bà O mỗi người phải

trả cho bà H 34 lượng vàng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi,

tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòan diện các chứng cứ, ý kiến

của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn k háng cáo của ông Nguyễn Hòang Tr , bà Nguyễn Thị

Ánh M làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo

trình tự phúc thẩm.

Ngày 22/12/2021 và ngày 05/6/2021, bà Nguyễn Thị Ánh M có đơn xin rút

lại tòan bộ yêu cầu kháng cáo và xin được vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Văn

Bản được Văn phòng công chứng N và Văn phòng công chứng số 2, Thành phố Hồ

Chí Minh công chứng, chứng thực. Căn cứ Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội

đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ánh M.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn, bị đơn tranh chấp tài sản chung khi ly hôn gồm: Diện tích

đất 16.912,4m2 thuộc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 15 tọa lạc ấp T, xã A, thị xã B,

tỉnh Bình Dương; trên đất có 01 căn nhà cấp 4 xây dựng khỏang năm 2005; 03

chuồng heo, 01 chuồng gà; 03 xe ôtô tải biển số 61C – 124.52, 61C-128.64 và 61H-

9361.

Đối với phần tài sản trên đất, nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận là tài sản

chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên mỗi bên hưởng ½ giá trị. Hai b ên

đương sự chỉ không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp đối với

quyền sử dụng đất diện tích 16.912,4m2.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Tr cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là tài

sản chung của các anh chị em trong gia đình ông Tr; do cần tiền kinh doanh nên các

anh chị em để ông Tr đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền

ngân hàng. Đây không phải là tài sản chung của vợ chồng ông Tr, bà O trong thời

kỳ hôn nhân.

Bà O cho rằng phần diện tích đất trên các anh chị em ông Tr đã được bà L

chia đều; sau đó bà T bán lại phần của bà T cho vợ chồng ông Tr, bà O với giá 20

lượng vàng; các anh chị em khác (trừ ông Tr, bà T) bán lại cho bà Nguyễn Thị Thu

H (chị ông Tr); bà H bán lại tòan bộ cho vợ chồng ông Tr giá 100 lượng vàng. V ì

vậy, đây là tài sản được tạo lập chung trong thời kỳ hôn nhân; bà yêu cầu được chia

½ quyền sử dụng đất.

[2.3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét

xử xét thấy:

[2.3.1] Các bên đương sự đều thống nhất xác định diện tích đ ất tranh chấp

16.912,4m2 nằm trong tổng diện tích đất 19.951m 2 bà Nguyễn Thị L (mẹ ông Tr)

được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/01/2000.

Nguồn gốc đất do vợ chồng ông S, bà L khai phá trước năm 1975. Năm 1982, ông

S chết, bà L và các con tiếp tục sinh sống trên đất. Năm 2000, bà L đăng ký kê khai

quyền sử dụng đất, được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

số 01351/QSDĐ ngày 17/01/2000 cho hộ gia đình. Thời điểm này, trong hộ khẩu

của hộ bà L có tên bà L, ông Th, bà T; ông Th đã chết từ năm 1995; bà T đi nước

ngòai định cư từ năm 1990. Như vậy, thực chất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất là cấp cho cá nhân bà L.

Ông Tr, bà O cùng chung sống với bà L trên phần diện tích đất này từ năm

1991 (kể từ thời điểm hai người kết hôn với nhau). Ngày 14/10/2005, bà L lập giấy

tặng cho ông Tr quyền sử dụng đất trên; giấy tặng cho có chữ ký xác nhận của bà S

(chị ông Tr) và xác nhận của chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó ông Tr đăng

ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/11/2005.

[2.3.2] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc bà L

đã phân chia diện tích đất tranh chấp cho các con trước thời điểm lập hợp đồng tặng

cho ông Tr; cũng như việc các anh chị em cho ông Tr mượn quyền sử dụng đất để

thế chấp vay vốn ngân hàng. Năm 2005, bà L tặng cho ông Tr quyền sử dụng đất

không có ai có ý kiến phản đối; sau khi được tặng cho, ông Tr được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, xây nhà trên đất, sử dụng quyền sử dụng đất để t hế chấp

ngân hàng nhưng các anh chị em của ông Tr cũng không có ý kiến gì. Thậm chí,

khi ông Tr và bà O tranh chấp giải quyết ly hôn, bà Nguyễn Thị S là một trong các

chị em của ông Tr có lời khai xác định phần đất trên mẹ bà tặng cho riêng ông Tr

nên bà không có ý kiến (biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2017).

Trong suốt quá trình xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện B, ông Tr

đều thống nhất xác định tài sản trên bà L tặng cho riêng ông nên ông không đồng ý

với yêu cầu chia tài sản chung của bà O. Quá trình xét xử phúc thẩm lần thứ nhất

tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, ông Tr phủ nhận tòan bộ lời khai ban đầu,

cho rằng đây tài sản chung của các anh chị em trong gia đình ông Tr; mục đích

sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tr là để ông vay vốn ngân

hàng. Đồng thời xuất trình văn bản cam kết đây là tài sản chung của các anh chị em

ông Tr được lập ngày 27/5/2015 (trước thời điểm ông Tr khởi kiện ly hôn đối với

bà O).

[2.3.3] Bà O cho rằng phần đất tranh chấp bà L đã phân chia cho các anh chị

em ông Tr. Phần của bà T đã bán lại cho bà với giá 20 lượng vàng; phần của bà S,

bà C, ông Th, bà M bán cho bà H; sau đó bà H bán lại cho vợ chồng ông Tr, bà O

với giá 100 lượng vàng. Để chứng minh, bà O xuất trình hợp đồng vay mượn vàng

và văn bản thỏa thuận về việc thanh tóan giữa bà H với bà O, ông Tr.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng việc bà H từ nước ngòai về, mang

theo số vàng lớn như vậy cho ông Tr, bà O vay là không thể thực hiện được; ông Tr

khai bà H mang 100 lượng vàng cho bà O vay nhưng bà M lại khai cho vay bằng

tiền nên có cơ sở xác định “ Bà H không có giao cho bà O, ông Tr vay 100 lượng

vàng, điều này đồng nghĩa với việc “Hợp đồng mượn tiền ngày 28/11/2003 là giả

mà thực chất vợ chồng bà O, ông Tr đã nhận chuyển nhượng tòan bộ th ửa đất của

ông S, bà L từ bà H với giá 100 lượng vàng như đúng lời trình bày của bà O”.

Nhận định của cấp sơ thẩm mang tính chất suy diễn. Dù bà H bằng cách nào có

vàng giao cho bà O, ông Tr mượn hay cho mượn tiền quy ra vàng thì hai bên đã

thống nhất về quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng vay mượn đã được công chứng,

chứng thực.

Việc bà L đã phân chia quyền sử dụng đất cho các con không có tài liệu,

chứng cứ chứng minh và không có cơ sở xác định như đã phân tích tại mục [2.3.2].

Hợp đồng mượn vàng được lập ngày 28/11/2003, nội dung thể hiện ông Tr, bà O

mượn của bà H 100 lượng vàng; không thể hiện nội dung chuyển nhượng đất. Các

giấy thương lượng về việc thanh tóan cũng chỉ chốt lại số vàng đã trả, số vàng còn

nợ; không có nội dung nào xác nhận số vàng này l à khỏan nợ từ việc mua bán nhà

đất. Mặt khác, bà O cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần của bà H từ năm 2003

(hợp đồng vay mượn vàng được thực hiện năm 2003); nhưng đến năm 2005 bà L

vẫn lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Tr, có xác nhận của bà S là

có sự mâu thuẫn về mặt thời gian. Bà O, bà D xác định năm 2003 các anh chị em

của ông Tr (trong đó có ông Th) chuyển nhượng lại phần của mình cho bà H, từ đó

bà H chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Tr ; tuy nhiên ông Th được xác định đã

chết từ năm 1995 nên lời trình bày của bà O, bà D là không phù hợp.

[2.3.4] Về mặt ý thức chủ quan ông Tr có nhập tài sản được tặng cho (nếu

có) vào tài sản chung của vợ chồng hay không? Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng sau

khi được bà L tặng cho, ông Tr xây dựng nhà trên đất, thế chấp v ào ngân hàng để

vay vốn kinh doanh chung với bà O, khi nhận tiền thu hồi đất thì giao cho bà O

cùng sử dụng; từ đó xác định về mặt ý chí ông Tr đã nhập tài sản được tặng cho

riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Xét thấy, các đương sự đều xác định vợ

chồng ông Tr ở trên phần đất này với bà L từ năm 1991, trên đất có một căn nhà cũ;

bà L vẫn là người quản lý đất cho đến năm 2005 mới tặng cho lại ông Tr; sau khi

nhận tặng cho ông Tr xây thêm một căn nhà mới trên đất; vẫn giữ lại căn nhà cũ để

sử dụng; bà L, bà S vẫn ở cùng ông Tr, bà O trên phần đất này cho tới khi bà L chết

(năm 2013). Căn nhà xây dựng thêm có một phần tiền do bà L góp vào. Việc vợ

chồng ông Tr , bà O ở trên đất xuất phát từ việc sống chung với bà L trước đó;

không phải xuất phát từ việc ông Tr được tặng cho quyền sử dụng đất năm 2005.

Phần diện tích đất này trước nay vẫn do gia đình bà L, ông Tr canh tác, sử dụng;

khi có họat động sản xuất kinh doanh ông Tr thế chấp để được vay vốn ngân hàng.

Số tiền nhận được do thu hồi đất ông Tr đưa cho bà O sử dụng cũng chưa đủ làm

căn cứ để xác định ông Tr đã nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ

chồng. Ngòai ra, cũng phải xét về ý thức chủ quan của bà O. Tại đơn phản tố và các

phiên họp công khai chứng cứ tại Tòa án nhân dân huyện B, bà O chỉ yêu cầu được

chia giá trị 1/3 tài sản, tương ứng 1.300.000.000 đồng, đề nghị được nhận bằng tiền

và giao tòan bộ nhà đất cho ông Tr.

[2.3.5] Tòa án c ấp sơ th ẩm nhận định như sau: “Theo Án l ệ số 03/2016/AL

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân t ối cao có nội dung “Trường hợp cha

mẹ đã cho v ợ chồng người con m ột diện tích đ ất mà v ợ chồng người con đã xây

nhà kiên c ố trên diện tích đ ất đó đ ể làm nơi ở, khi v ợ chồng người con xây d ựng

nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ

chồng người con đã sử dụng nhà đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành kê

khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng

người con đã đư ợc tặng cho quy ền sử dụng đất”. Do đó, có căn c ứ xác định đất

trên là tài sản chung của ông Tr và bà O…”.

Xét th ấy, vi ệc áp d ụng Án l ệ số 03/2016/AL c ủa Tòa án c ấp sơ th ẩm là

không phù h ợp. Bởi lẽ, quyền sử dụng đất tranh ch ấp bà L được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất năm 2000; vợ chồng bà O sống cùng bà L trên đất từ năm

1991; từ năm 1991 đ ến năm 2005 bà L vẫn là ngư ời thực hiện quản lý quy ền sử

dụng đất; năm 2005 bà L lập thủ tục tặng cho cá nhân ông Tr mặc dù thời điểm này

ông Tr, bà O đã kết hôn v ới nhau và có th ời gian chung s ống lâu dài. Như v ậy,

không thể cho rằng bà L đã tặng cho vợ chồng ông Tr, bà O quyền sử dụng đất và

xác định quyền sử dụng đất này là tài s ản chung của vợ chồng ông Tr, bà O trong

thời kỳ hôn nhân như trường hợp Án lệ số 03/2016/AL được.

[2.3.6] Cấp sơ thẩm mâu thuẫn trong chính nhận định c ủa mình, đối với 01

tài sản nhưng vừa áp dụng Án lệ số 03/2016/AL cho rằng ông Tr, bà O đã được bà

L tặng cho; vừa cho rằng ông Tr được tặng cho riêng nhưng về ý chí ông Tr đã

nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng; mặt khác cũng xác định tài sản này ông

Tr, bà O tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, trong đó có mua lại của bà H với giá 100

lượng vàng, hiện còn nợ lại 68 lượng. Do cấp sơ thẩm nhận định mâu thuẫn nhau

nên dẫn đến quyết định của bản án thiếu tính thuyết phục.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xác định rõ tài sản này là tài sản được tặng

cho chung; tài sản được tặng cho riêng nhưng đã nhập vào khối tài sản chung của

vợ chồng hay tài sản được hai vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (mua lại của

các anh chị em khác); từ đó mới có cơ sở để chia tà i sản chung của vợ chồng trong

thời kỳ hôn nhân. Bởi lẽ, đối với mỗi trường hợp thì việc đánh giá công sức đóng

góp của các bên để làm cơ sở phân chia tài sản là khác nhau. Để đảm bảo việc giải

quyết tranh chấp triệt để, đúng quy định pháp luật, đảm bảo qu yền kháng cáo của

các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo

quy định pháp luật.

Khi giải quyết lại vụ án, cấp sơ thẩm cũng cần xem xét ngòai phần đất tranh

chấp trên, các đương s ự có nhà ở, quyền sử dụng đất nào khác không để đảm bảo

vẫn đề chỗ ở cho các bên đương s ự. Trong trường hợp cho rằng phần diện tích đất

này không phải là tài sản chung của vợ chồng thì cần phải xem xét làm rõ công sức

đóng góp của bà O trong quá trình cùng chung s ống và ho ạt động kinh doanh v ới

ông Tr để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của bà O.

[3] Ông Nguyễn Hòang Tr và bà Nguyễn Thị Ánh M không phải chịu án phí

dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 289, khỏan 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết Mai.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Hòang Tr.

Hủy tòan bộ Bản án hôn nhân gia đình số 06/2020/HNGĐ -ST ngày

25/3/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa á n nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại theo quy

định pháp luật.

Hòan lại cho bà Nguyễn Thị Ánh M , ông Nguyễn Hòang Tr mỗi người

300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo các biên lai thu số

0044555 và 0044556 cùng ngày 16/4/2020 của Cục t hi hành án dân sự tỉnh Bình

Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Nhựt Bình Phạm Trí Tuấn Hòang Thanh Dũng

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *