Bản án số 49/2024/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 05/2016/AL |
| Ngày thông qua | 2024-02-28 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số 49/2024/DS-PT
Ngày 28/02/2024
Về“Tranh chấp về thừa kế tài sản,
chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
————
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Đặng Kim Nhân
Các Thẩm phán: ông Trương Minh Tuấn, ông Lê Tự
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Trang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Quách Hòa Bình – Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên
tòa công khai tại trụ sở để xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 216/TBTL-TA
ngày 27/10/2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số
24/2023/DS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bị kháng
cáo. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐ -PT ngày 30/01/2024 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ P, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành
phố N, tỉnh Khánh Hòa; bà P vắng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn:
1. Chị Trần Thị Qúy T, sinh năm 1991;
2. Chị Trần Thị Yến T1, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa.
i di n theo ủy quyền của chị T và chị T1 là ông Ngô Đức T2 , sinh năm
1988; nơi đăng ký thường trú: 82 N, V, N, Khánh Hòa ; địa ch ỉ cư trú : 32 B T,
phường V, N, tỉnh Khánh Hòa; ông T2 có mặt tại phiên tòa.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Mỹ T3, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn N, xã V, N, Khánh Hòa,
vắng mặt.
2. Bà Trần Thị Mỹ Y, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Lâm Đồng, vắng mặt.
3. Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa,
vắng mặt.
4. Bà Trần Thị Mỹ P1, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn C, xã D, huyện D,
Khánh Hòa, vắng mặt.
5. Cụ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953, vắng mặt;
6. Anh Trần Phương N, sinh năm 1993, vắng mặt;
Cụ Đây, anh N cùng địa chỉ: Tổ B, thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
7. Bà Phan Thị N1, sinh năm 1960, vắng;
8. Anh Trần Đình H, sinh năm 1981, vắng;
9. Anh Trần Trung L1, sinh năm 1983, vắng;
10. Chị Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1995, vắng;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
11. Ủy ban nhân dân thành phố N, có văn bản đề nghị xử vắng mặt.
12. Ủy ban nhân dân xã V, có văn bản đề nghị xử vắng mặt.
13. Anh Lê Việt T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa,
vắng mặt.
14. Bà Lê Thị Kim L2, không xác định được địa chỉ cư trú;
15. Ông Hồ Xuân N2, sinh năm 1970, vắng;
16. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972, vắng;
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T i ơn khởi ki n đề ngày 23/01/2019; đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi ki n
đề ngày 21/01/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ P trình
bày:
Cha mẹ là vợ chồng cụ Trần S, cụ Lê Thị Kim K có 7 con chung là bà Trần
Thị Mỹ H2 (chết lúc nhỏ, không có chồng con); bà Trần Thị Mỹ T3 (sinh 1967);
ông Trần Tuấn P2 (sinh năm 1969, chết năm 2011 có 2 con là Trần Thị Qúy T và
Trần Thị Yến T1 ); bà Trần Thị Mỹ P (sinh 1971); bà Trần Thị Mỹ Y (sinh 1973);
bà Trần Thị Mỹ L (sinh 1976) và bà Trần Thị Mỹ T5 (sinh 1981). Cụ K trước khi
kết hôn, có 7 con chung với cụ S, cụ K có 01 con riêng là ông Trần Đình P3 (chết,
có vợ là bà Phan Thị N1 và 03 con là anh Trần Đình H, anh Trần Trung L1 và chị
Trần Thị Ngọc D) anh L1, D). Sau khi cụ K chết năm 1981, sau đó năm 1991 cụ S
chung sống như vợ chồng với cụ Nguyễn Thị Đ và có 01 con là Trần Phương N ,
sinh 1993. Cụ K chết năm 1981, cụ S chết năm 2006 đều không để lại di chúc.
Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 27, địa chỉ thôn Đ, xã V, N là tài sản do vợ
chồng cụ S, cụ K tạo lập, cụ S đăng ký kê khai tại Sổ đăng ký ruộng đất của xã V
năm 1986, được UBND thành phố N ký phê d uyệt ngày 11/3/1987, diện tích
1.500m2 (đất T 500m2, đất Q:1.000m2) thửa 345, tờ bản đồ số 03, thôn Đ, xã V, N.
Hai thửa đất nông nghiệp trồng hoa màu số 50, 55 tờ bản đồ số 27, thôn Đ,
xã V, N là đất Nhà nước giao theo Nghị định 64-CP cho “hộ gia đình Trần S” gồm
các thành viên trong hộ là cụ S (cha) và các con Trần Thị Mỹ T3 (sinh 1967), Trần
Tuấn P2 (sinh 1969), Trần Thị Mỹ P (sinh 1971), Trần Thị Mỹ Y (sinh 1973), Trần
Thị Mỹ L (sinh 1976), Trần Thị Mỹ P1 (sinh 1981), có Giấy nộp thuế năm 2001,
2002 cho HTX N3.
Năm 1994, lợi dụng cụ Sành già yếu, ông Trần Tuấn P2 tự ý kê khai, được
UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00108 QSDĐ/VP
ngày 14/8/1999 cho “hộ ông Trần Tuấn P2” quyền sử dụng đối với cả 3 thửa đất là
thửa đất số 365 diện tích 540m2 (gồm 200m2 đất ở, 340m2 đất Q), hai thửa đất nông
nghiệp số 165, diện tích 1.265m 2 và số 191, diện tích 590m 2 và tờ bản đồ số 4 xã
V. Ngày 27/11/2011 UBND thành phố N cấp đổi cho “hộ ông Trần Tuấn p” 03
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
số CH00700/22387, CH00698/22387, CH00699/22387 đối với 3 thử a đất trên.
Hiện tại trên thửa đất số 365 (nay là 146) có căn nhà cấp 4 do bà Trần Thị Mỹ P
góp tiền xây dựng, còn bà Trần Thị Mỹ T5 bỏ công sức xây dựng, căn nhà do b à P
quản lý sử dụng dùng vào việc thờ cúng; hai thửa đất hoa màu số 50, 55, tờ bản đồ
số 27 thì bà P canh tác, sử dụng.
Nay, bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất (cấp đổi) số CH00700/22387 ngày 21/7/2011; số
CH00698/22387 ngày 21/7/2011, số CH00699/22387 ngày 21/7/2011 do UBND
thành phố N đứng tên “hộ ông Trần Tuấn P2”.
+ Chia di sản thừa kế của cụ S, cụ K là quyền sử dụng thửa đất số 365, tờ
bản đồ số 04 (nay là thửa 146, tờ bản đồ số 27) thôn Đ, xã V, N theo quy định pháp
luật.
+ Chia di sản thừa kế của cụ S là một phần quyền sử dụng hai thửa đất nông
nghiệp số 191, 165, tờ bản đồ số 0 4 (nay là thửa đất số 50, 55; tờ bản đồ số 27) tại
thôn Đ, xã V, N theo quy định pháp luật.
+ Chia tài sản chung là quyền sử dụng hai thửa đất nông nghiệp số 191, 165,
tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 50, 55, tờ bản đồ số 27) thôn Đ, xã V, N của hộ gia
đình cụ S theo quy định pháp luật.
Kỷ phần bà P xin được nhận hiện vật, đồng thời, đề nghị Tòa án xem xét tính
công sức đóng góp tôn tạo, quản lý, gìn giữ nhà đất nêu trên cho bà P được hưởng
thêm một phần di sản thừa kế của cụ S và cụ K.
Bị đơn là chị Trần Thị Qúy T, chị Trần Thị Yến T1 (con ông Trần Tuấn P2,
do đ i di n theo ủy quyền ông Ngô Đức T2) trình bày:
Không đồng ý chia thừa kế thửa đất số 146, tờ bản đồ số 27 thôn Đ, xã V vì
thửa đất này cụ Trần S mua năm 1967 và đến năm 1991 thì cụ S đã tặng cho ông
P2 do ông P2 là con trai duy nhất và cũng là người trực tiếp thờ cúng ông bà tổ tiên
và chăm sóc cụ S, ông P2 đã được đứng tên quyền sử dụng thửa đất. Đối với hai
thửa đất nông nghiệp số 50, 55 là đất được giao khóan năm 1 993 và đến năm 1994
thì được điều chỉnh cấp theo Nghị định 64/CP cho ông P2 nên cũng không đồng ý
chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan là các bà Trần Thị Mỹ T3, Trần Thị
Mỹ L, Trần Thị Mỹ T5 và Trần Thị Mỹ Y (con cụ S, cụ K) đồng ý với trình bày và
yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị được chia kỷ phần thừa kế bằng hiện vật.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan là bà Phan Thị N1 và các con anh
Trần Đình H, anh Trần Trung L1, chị Trần Thị Ngọc D (v và con ông Trần Đình
P3) thống nhất với trình bày và yêu cầu của n guyên đơn và nhường kỷ phần cho
nguyên đơn.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan là Nguyễn Thị Đ và Trần Phương N
thống nhất với trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, xin nhận kỷ phần thừa kế
bằng hiện vật.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan là UBND thành phố N trình bày: Khi
triển khai Nghị định 64/CP, ông P2 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày
24/9/1994 được UBND xã V xác nhận ngày 20/5/1999 và ngày 14/8/1999 UBND
thành phố N cấp cho hộ ông Trần Tuấn P2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00108 QSDĐ/VP -NT đối với thửa đất số 165 (diện tích 1265m 2), thửa đất 191
(diện tích 590m2) và thửa 365 (diện tích 540m 2) tờ bản đồ số 4 xã V, thành phố N.
Năm 2011, ông P2 nộp hồ sơ đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và ngày 27/11/2011 UBND thành phố N cấp cho “hộ ông Trần Tuấn p” 03 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
CH00700/22387, CH00698/22387, CH00699/22387 cấp ngày 21/7/2011. Việc
UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thực hiện theo đơn
đăng ký quyền sử dụng đất ngày 24/9/1994 của ông P2, được UBND xã V xác
nhận ngày 20/5/1999 (cấp lần đầu) và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp
luật quy định (cấp đổi).
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan, UBND xã V trình bày: Việc xét cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00108 QSDĐ/VP-NT ngày 14/8/1999 cho
hộ ông P2 được UBND xã thực hiện đúng thủ tục, trình tự cụ thể UBND xã đã
thành lập Hội đồng xét cấp đất theo Nghị định 64 và tổ chức họp xét vào ngày
15/5/1999 với tổng số 119 trường hợp được hội đồng thông qua trong đó có trường
hợp của ông Trần Tuấn P2; tuy nhiên, qua đối chiếu hồ sơ lưu trữ và biên bản hòa
giải tranh chấp quyền sử dụng đất do UBND xã lập ngày 11/5/2012 thì UBND xã
có ý kiến như sau:
Đối với thửa đất số 365, tờ bản đồ số 04, diện tích 540m2 (T: 200m2; Q:
340m2) trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00108 nêu trên thì trong Sổ
đăng ký ruộng đất năm 1986 ông Trần S đăng ký kê khai diện tích 15000m2 (T:500
m2 Q: 1000m2), thửa 345 tờ bản đồ số 03 thôn Đ, xã V, thành phố N. Đối với thửa
đất số 191, tờ bản đồ số 04, diện tích 590m2 lọai đất 2L và thửa đất số 165, tờ bản
đồ số 04, diện tích 1265m2, lọai đất (1L: 505m2; LK: 760 m2) trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 00108 nêu trên thì tại Sổ tay họp xét của xã năm 1992
gồm các thành viên: Trần Sành, Trần Thị Mỹ T3, Trần Tuấn P2, Trần Thị Mỹ P,
Trần Thị Mỹ Y, Trần Thị Mỹ L và Trần Thị Mỹ T5, đề nghị Tòa án giải quyết theo
pháp luật.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan, ông Lê Việt T4 trình bày: ngày
28/10/2018, ông T4 ký hợp đồng đặt cọc với bà T, T4 để nhận chuyển nhượng thửa
đất số 146. Ngày 05/10/2021, ông T4 có đơn xin rút tòan bộ yêu cầu tại đơn ngày
01/3/2021 vì giữa ông và bà T4, T đã thỏa thuận được với nhau nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan, bà Lê Thị Kim L2 vắng mặt và
không gửi ý kiến trình bày.
Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan, ông Hồ Xuân N2 và bà Nguyễn Thị
H1 trình bày: Chúng tôi là người thuê thửa đất số 50, 55 của bà P thời hạn 12 tháng
kể từ ngày 01/1/2023 đến hết ngày 31/12/2023 giá thuê 1.000.000đồng, chúng tôi
đã giao đủ tiền cho bà P, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thuê đất
và sẽ tự nguyện tháo dỡ tòan bộ tài sản trên đất và trả lại hiện trạng đất như cũ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS -ST ngày 11/8/2023, Tòa án
nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định:
Áp dụng iều 75, 76, 108, 109, 633, 635, 674, 675, 676, 677, 685 của Bộ luật
dân sự năm 2005;
Áp dụng iều 26, 34, 37, 39, , 157, 165, 180, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015;
Căn cứ Án l số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 và Án l số 06/2016/AL ngày
06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-H TP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
th ng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và l phí tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn, bà Trần Thị Mỹ P về vi c:
“Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất” ki n bị đơn, bà Trần Thị Quí T6, Trần Thị Yến T1.
[1.1] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00700/22387 do UBND
thành phố N cấp ngày 21/7/2011 đối với thửa đất số 146 t bản đồ số 27, di n tích
654,1m2 t i thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa đứng tên ông Trần Tuấn P2.
[1.2] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00698/22387 do UBND
thành phố N cấp ngày 21/7/2011 đối với thửa đất số 50 t bản đồ số 27, di n tích
1296,4m2 t i thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa đứng tên hộ ông Trần Tuấn P2.
[1.3] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH00699/22387 do UBND
thành phố N cấp ngày 21/7/2011 đối với thửa đất số 55 t bản đồ số 27, di n tích
619,6m2 t i thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa đứng tên hộ ông Trần Tuấn P2.
[1.4] Chia di sản thừa kế của ông Trần S, bà Lê Thị Kim K là quyền sử dụng
đất t i Thửa đất số 365, t bản đồ số 04 (nay là Thửa đất số 146, t bản đồ số 27)
t i Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa.
[1.5] Chia di sản thừa kế của ông Trần S: Một phần quyền sử dụng đất thuộc
thửa 02 (hai) thửa đất số 191, 165, t bản đồ số 04 (nay là Thửa đất số 50, 55; t
bản đồ số 27) t i Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa.
[1.6] Chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc thửa 02 (hai) thửa đất số
191, 165, t bản đồ số 04 (nay là Thửa đất số 50, 55; t bản đồ số 27) t i Thôn Đ,
xã V, N, Khánh Hòa của hộ gia đình ông Trần S.
[2] Giá trị phần tài sản chung và giá trị kỷ phần thừa kế của mỗi người.
[2.1] Bà Trần Thị Mỹ P đ c nhận: 958.260.000đồng.
[2.2] Bà Trần Thị Mỹ T3 , Trần Thị Mỹ L mỗi ng i đ c nhận:
398.830.000đồng.
[2.3] Bà Trần Thị Mỹ T5 , Trần Thị Mỹ Y mỗi ng i đ c nhận:
391.377.000đồng.
[2.4] Ông Trần Phương N đ c nhận: 239.161.000đồng.
[2.5] Bà Lê Thị Kim L2 đ c nhận: 153.147.000đồng.
[2.6] Bà Trần Thị Qúy T, Trần Thị Yến T1 đ c nhận: 790.207.000đồng.
[3] Về chia hiện vật:
[3.1] Đối với thửa đất số 50 và 55 tờ bản đồ số 27 tại thôn Đ, xã V, N, Khánh
Hòa
[3.1.1] Giao cho bà Trần Thị Mỹ P đ c quyền quản lý, sử dụng đối với thửa
đất số 50, t bản đồ số 27, di n tích 1.297.60m2 t i thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa
(Lô C sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
[3.1.2] Giao cho bà Trần Thị Qúy T, Trần Thị Yến T1 đ c quyền quản lý, sử
dụng đối với thửa đất số 55, t bản đồ số 27, di n tích 687m2 t i thôn Đ, xã V, N,
Khánh Hòa (Lô D sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
[3.2] Đối với thửa đất số 146 tờ bản đồ số 27 tại thôn Đ, xã V, N, Khánh
Hòa
[3.2.1] Giao cho bà Trần Thị Mỹ P đ c quyền quản lý, sử dụng di n tích
đất là 385.9m2 (Trong đ c 100m2 đất ở và 285.9m2 đất nông nghi p) t i thửa đất
số 146, t bản đồ số 27 t i Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa (Lô A sơ đồ bản vẽ kèm
theo bản án).
[3.2.2] Giao cho bà Trần Thị Qúy T, Trần Thị Yến T1 đ c quyền quản lý, sử
dụng di n tích đất là 171.0m2 (Trong đ c 100m2 đất ở và 71m2 đất nông nghi p)
t i thửa đất số 146, t bản đồ số 27 t i Thôn Đ, xã V, N, Khánh Hòa (Lô B sơ đồ
bản vẽ kèm theo bản án).
ơng sự c quyền liên h cơ quan nhà n ớc c thẩm quyền xin cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất theo qui định pháp luật.
[4] Về thanh tóan giá trị chênh lệch
[4.1] Bà Trần Thị Mỹ P có nghĩa vụ thanh tóan cho các đồng thừa kế, cụ
thể như sau
[4.1.1] Thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ T3: 398.830.000đồng.
[4.1.2] Thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ L: 398.830.000đồng.
[4.1.3] Thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ T5: 391.377.000đồng.
[4.1.4] Thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ Y: 276.344.000đồng.
[4.1.5] Thanh tóan cho bà Lê Thị Kim L2: 153.147.000đồng và t m giao l i
kỷ phần thừa kế này cho bà P quản lý, bà P c ngh a vụ giao l i kỷ phần thừa kế
cho bà L2 khi bà L2 trở về. Quyền, ngh a vụ của ng i c quyền l i, ngh a vụ liên
quan – bà L2 thuộc di n thừa kế ch a tìm đ c địa chỉ sẽ đ c Tòa án giải quyết
bằng một vụ án khác khi c yêu cầu.
[4.2] Bà Trần Thị Quí T6 và Trần Thị Yến T1 có nghĩa vụ thanh tóan cho
các đồng thừa kế, cụ thể như sau
[4.2.1] Thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ Y: 115.033.000đồng.
[4.2.2] Thanh tóan cho ông Trần Phương N: 239.161.000đồng.
[5.] Chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ, định giá, chi phí tố tụng khác
[5.1] Chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ, định giá
[5.1.1] Các ông bà Trần Thị Mỹ T5, Bà Trần Thị Mỹ T3, Trần Thị Mỹ Y,
Trần Thị Mỹ L, Trần Phương N mỗi ng i phải thanh tóan l i cho bà Trần Thị Mỹ
P: 2.251.000đồng.
[5.1.2] Bà Trần Thị Quí T6 và Trần Thị Yến T1 phải thanh tóan l i cho bà
Trần Thị Mỹ P: 2.251.000đồng.
[5.1.3] Bà Lê Thị Kim L2 phải thanh tóan cho bà Trần Thị Mỹ P:
2.251.000đồng. Bà Trần Thị Mỹ P là ng i đ c giao quản lý kỷ phần thừa kế bà
L2 đ c h ởng, nên bà P c ngh a vụ trích số tiền 2.251.000đồng để thanh tóan
chi phí xem xét thẩm định t i chỗ bà đã t m ứng tr ớc đ .
[5.2] Chi phí tố tụng đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Bà
Trần Thị Mỹ P c yêu cầu chịu, bà P đã nộp đủ 8.000.000đồng.
[6] Án phí
[6.1] Bà Trần Thị Mỹ P phải nộp 40.747.000đồng án phí dân sự sơ thẩm
nh ng đ c trừ 1.000.000đồng tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai thu t m
ứng án phí, l phí tòa án số AA/2016/0000880 ngày 14/5/2019 của Cục thi hành án
dân sự tỉnh Khánh Hòa. Nh vậy, bà P còn phải nộp số tiền án phí là
39.747.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6.2] Bà Trần Thị Mỹ T3, Trần Thị Mỹ L mỗi ng i phải nộp:
19.941.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6.3] Bà Trần Thị Mỹ T5, Trần Thị Mỹ Y mỗi ng i phải nộp
19.568.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6.4] Ông Trần Phương N phải nộp 11.958.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6.5] Bà Trần Thị Quí T6 và Trần Thị Yến T1 phải nộp 35.608.000đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
[6.6] Bà Lê Thị Kim L2 phải nộp 7.657.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà P
là ng i đ c giao quản lý kỷ phần thừa kế bà L2 đ c h ởng, nên bà P c ngh a
vụ trích một phần giá trị kỷ phần thừa kế của bà L2 đ c h ởng để nộp số tiền án
phí n i trên cho bà L2.
Quy định: “Kể từ ngày ng i đ c thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án,
nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo
lãi suất quy định t i khỏan 2 iều 357 của Bộ luật Dân sự 2015, t ơng ứng với
th i gian chậm trả.
Tr ng h p quyết định đ c thi hành theo quy định t i iều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì ng i đ c thi hành án dân sự, ng i phải thi hành án dân sự c
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án
hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định t i các iều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; th i hi u thi hành án đ c thực hi n theo quy định t i iều 30 Luật Thi
hành án dân sự”.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/8/2023, chị Trần Thị Qúy T kháng cáo yêu
cầu cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp là tranh chấp về thừa kế và tranh
chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định
cụ S không để lại di sản thừa kế vì thửa đất 146 đã tặng cho ông Trần Tuấn P2, còn
2 thửa đất nông nghiệp thuộc tòan quyền sử dụng của gia đình ô ng P2; nếu cấp
phúc thẩm xác định cụ S để lại di sản thừa kế để chia thì đề nghị sửa bản án sơ
thẩm theo hướng không trích công sức bảo quản, giữ gìn di sản cho bà Trần Thị
Qúy P4.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Chị Trần Thị Qúy T (do ông Ngô Đức T2 đại diện theo ủy quyền) trình bày
giữ nguyên kháng cáo,
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc
thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự;
+ Về nội dung: đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ việc hỏi và tranh
luận; căn cứ ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của chị Trần Thị Qúy T yêu cầu Hội đồng xét xử phúc
thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế và tranh chấp hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất” t hấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ yêu cầu
khởi kiện trong vụ án xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết “ Tranh chấp về
thừa kế tài sản, chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất” là đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của chị Trần Thị Qúy T yêu cầu cấp phúc thẩm xác định cụ
Trần S không để lại di sản thừa kế vì cụ S đã tặng cho thửa đất 345 (trên đất có nhà
của vợ chồng cụ S) cho con trai trưởng, duy nhất là ông Trần Tuấn P2 từ năm
1991; còn 2 thửa đất nông nghiệp thì lúc đầu có ghi là giao cho hộ Trần S, nhưng
vợ chồng ông Trần Tuấn P2 là người quản lý, canh tác nên có tòan quyền sử dụng
hai thửa đất nông nghiệp, cấp phúc thẩm xét thấy:
[2.1] Đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 27, thôn Đ, xã V, N hiện nay các
đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất này do vợ chồng cụ Trần S, cụ Lê Thị
Kim K tạo lập và tại Sổ đăng ký ruộng đất xã V lập năm 1986 (UBND thành phố N
phê duyệt ngày 11/3/1987 – bút lục 226) thì cụ Trần S đứng tên kê khai đăng ký
thửa đất số 345, tờ bản đồ số 03 thôn Đ, xã V, N diện tích 1500m2 (T: 500m2,
Q:1000m2). Ngày 24/9/1994 ông Trần Tuấn P2 viết Đơn xin đăng ký kê khai quyền
sử dụng đất xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 365 diện tích
540m2 gồm 200m2 đất Thổ và 340m2 đất Q (thửa 345) nguồn gốc: “ ất cha mua
năm 1967 (Nguyễn Lạc V) không c giấy t , để l i cho con năm 1991”. Xét, khi
ông P2 kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 365 (là thửa 345
cụ Trần S kê khai tại Sổ đăng ký ruộng đất xã V năm 1986) thì cụ Trần S còn sống,
nhưng không có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cụ S; mặt khác thửa đất 345 là tài
sản chung của cụ Trần S và cụ Lê Thị Kim K, cụ K chết năm 1981 nên phần di sản
của cụ K thuộc quyền sử dụng, định đọat của các đồng thừa kế di sản của cụ K,
nhưng ông P2 kê khai xin cấp Giấy chứng nhận không được sự đồng ý của những
người này; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 365 (nay là thửa đất số
146, tờ bản đồ số 27, thôn Đ, xã V) là di sản của vợ chồng cụ S, cụ K để chia thừa
kế theo pháp luật là có cơ sở, đúng pháp luật nên cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của chị Lê Thị Qúy T7 về vấn đề này.
[2.2] Đối với hai thửa đất nông nghiệp trồng lúa số 5 0, 55, tờ bản đồ số 27,
thôn Đ, xã V, N thì theo Sổ tay họp giao đất nông nghiệp cân đối thep Nghị định
64-CP của xã V lập năm 1992 thì được cân đối cho“hộ gia đình ông Trần S”; Giấy
chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú hộ ông Trần S lập ngày 20/5/1988 thể
hiện hộ ông Trần S gồm các thành viên: ông S (cha) và các con T3, P2, P4, Y, L,
T5; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 50, 55 tờ bản đồ số 27 thôn Đ,
xã V là tài sản chung của 7 người gồm cụ S và các con T3, P2, P4, Y, L, T5 để chia
tài sản chung, chia thừa kế phần di sản của cụ Trần S trong 2 thửa đất 50, 55 là có
căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của chị Trần Thị Qúy T không đồng ý việc Tòa án cấp sơ
thẩm trích công sức bảo quản, giữ gìn di sản cho bà Trần Thị Qúy P4 thấy bà P4 và
ông Trần Tuấn P2 (cha chị T) đều có công sức đóng góp, tôn tạo, quản lý và gìn giữ
di sản thừa kế nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016
trích cho mỗi người 1 kỷ phần là có căn cứ nên cấp phúc thẩm không chấp nhận nội
dung kháng cáo này của chị T.
[4] Các nội dung khác Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết không có kháng cáo,
kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xét, chị Trần Thị Qúy T kháng cáo không
được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khỏan 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS -ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân d ân tỉnh
Khánh Hòa.
Chị Trần Thị Qúy T phải chịu 300.000 đ ồng án phí dân sự phúc thẩm, trừ
vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số
0010285 ngày 06/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc kiểm tra II-TANDTC;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa (để biết);
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa
(để thi hành);
- Lưu: Phòng lưu trữ; hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
( ã ký)
Đặng Kim Nhân
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
