Bản án số: 38/2024/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 05/2016/AL |
| Ngày thông qua | 2024-02-20 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2024/DS-PT
Ngày: 20/02/2024
V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài
sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
ông Lê Tự
ông Đặng Kim Nhân
ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t ại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Đòan Ngọc Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 340/2023/TLPT-DS
ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế bị kháng cáo.
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1943.
Hộ khẩu thường trú: số 292 B đường C1, phường G, thành phố H, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Chỗ ở: A, xã P1, huyện P2, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Phạm Thị X, sinh năm
1978; địa chỉ: số 86 đường H1, phường T1, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; địa chỉ: số 292 B đường C1,
phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1966; địa chỉ: số 137/3 đường N,
phường X1, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1977; địa chỉ: số 15/1 đường Nguyễn
Du, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1981; địa chỉ: A, xã P1, huyện P2, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
4. Anh Nguyễn Duy H2, sinh năm 1995; địa chỉ: phường T2, quận T3,
thành phố Hồ Chí Minh.
5. Anh Nguyễn Duy Q1, sinh năm 2005; địa chỉ: phường T2, quận T3,
thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của anh H2 và anh Q1: bà Phạm Thị X,
sinh năm 1978; địa chỉ: số 86 đường H1, phường T1, thành phố H, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
6. Bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1978; địa chỉ: số 292 B đường C1,
phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Chị Nguyễn Thị Tường U, sinh năm 1998; địa chỉ: số 292 B đường C1,
phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Văn P, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trần Thị Kim L1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 5 năm 2022 và các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C,
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày:
Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn Đ1 là vợ chồng hợp pháp. Quá
trình chung sống vợ chồng bà C có tạo lập được khối tài sản chung là: Nhà đất
thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại số 292B đường C1, phường G,
thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích 321,9 m2 (200 m2 đất ở; 121,9
m2 đất nông nghiệp) đã được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị C vào ngày
25/8/2008. Ông Nguyễn Văn Đ1 chết năm 2017, trước khi chết ông Đ1 không
để lại di chúc nên di sản thừa kế được chia theo pháp luật.
Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn Đ1 có 06 người con chung:
Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1966, Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1966; Nguyễn Văn
P1, sinh năm 1971 chết năm 2021 (ông P1 có vợ là bà Hồ Thị C tức Hồ Mai L2
nhưng đã ly hôn từ năm 2014, ông P1 và bà L2 có với nhau 02 người con chung
là Nguyễn Duy H2 , Nguyễn Duy Q1); Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; Nguyễn
Thị Bích V, sinh năm 1977 và Nguyễn Văn V1, sinh năm 1981. Tuy nhiên, ông
Nguyễn Văn Q2 có văn bản từ chối nhận di sản nên xác định hàng thừa kế thứ
nhất của ông Nguyễn Văn Đ1 gồm 06 người. Theo bản vẽ hiện trạng nhà đất của
Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đo vẽ ngày 13/8/2022 thì
thửa đất đang tranh chấp có diện tích là 291,5 m2. Hiện tại vợ chồng ông
Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Kim L1 đang ở trên nhà đất tranh chấp. Do đó, bà
Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông
Nguyễn Văn Đ1 với diện tích đất theo kết quả đo đạc là 145,75 m2 có giá trị
2.915.000.000 đồng, diện tích nhà 52,3 m2 có giá trị 125.271.575 đồng. Tổng
cộng nhà và đất có giá trị 3.040.271.575 đồng (diện tích đất và nhà thống nhất
chia theo bản vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đo vẽ
ngày 13/8/2022). Bà Nguyễn Thị C yêu cầu chia cho bà được hưởng một suất
thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1 và giao tòan bộ hiện vật nhà đất nêu trên cho
bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng và sở hữu, còn bà Nguyễn Thị C sẽ giao
lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07 tháng 7 năm 2022 cũng như các biên
bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, nếu
Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật thì phía bị đơn thống nhất về
nguồn gốc đất tranh chấp, thống nhất hàng thừa kế chia cho 06 hàng thừa kế như
nguyên đơn cũng như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố H, ông đồng ý với yêu cầu
khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn P đồng ý chia diện
tích nhà đất theo bản vẽ hiện trạng nhà đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố H lập ngày 13/8/2022 và chia theo giá thị trường có giá đất là
20.000.000 đồng/m2, giá trị nhà là 3.685.000 đồng/m2. Phía bị đơn yêu cầu được
nhận một kỷ phần thừa kế tương đương với hiện vật mà mình được nhận, đồng
thời ông Nguyễn Văn P có nguyện vọng được Tòa án chia hiện vật với diện tích
đất là 50 m2 để phía bị đơn đi tách thửa và xây dựng nhà ở vì ngòai chỗ ở này bị
đơn không có chỗ ở nào khác. Phần diện tích ông được nhận nhiều hơn so với
các đồng thừa kế khác thì ông sẽ thanh tóan lại giá trị bằng tiền. Quá trình ở trên
nhà đất tranh chấp vợ chồng ông có bỏ tiền ra để sửa chữa nhà nhưng ông không
yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này. Tuy nhiên, ông đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét tính công sức do ông bảo quản giữ gìn di sản trong thời gian bà
Nguyễn Thị C sang sinh sống tại nước Mỹ từ năm 2012 đến nay.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn
là bà Nguyễn Thị Th1, bà Nguyễn Thị Bích V, ông Nguyễn Văn V1, anh
Nguyễn Duy H2 và Nguyễn Duy Q1, người đại diện theo ủy quyền của anh H2
và anh Q1 là bà Phạm Thị X trình bày: Thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn
Thị C. Những người này từ chối nhận di sản và đồng ý giao tòan bộ phần thừa
kế của mình được hưởng cho bà Nguyễn Thị C tòan quyền quản lý, sử dụng.
Ông Nguyễn Văn Q2 trình bày:
Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị C thì ông đã có
văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1, ông Q2 đi nước
ngòai đã lâu, bản thân ông không muốn liên quan gì đến tài sản của gia đình nên
đã làm văn bản từ chối nhận di sản gửi về cho gia đình ông. Nay được biết Tòa
án giải quyết tranh chấp thì vụ việc này không còn liên quan gì đến ông Q2 và
ông đề nghị Tòa án không xác định ông là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong vụ án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là bà
Trần Thị Kim L1 và chị Nguyễn Thị Tường U trình bày: Thống nhất với ý kiến
của bị đơn là ông Nguyễn Văn P.
Kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân phường G,
thành phố H cung cấp như sau: Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp thì theo
Bản đồ 299 đo vẽ năm 1991 thuộc thửa đất số 1244, tờ bản đồ số 02, diện tích
200 m2 thể hiện ông Nguyễn Văn Đ1 đăng ký. Theo Bản đồ 202 đo vẽ năm 1997
thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ 20 diện tích 321,9 m2 thể hiện ông Nguyễn Văn
Đ1 đăng ký.
Ngày 25/8/2008 ông, bà Nguyễn Văn Đ1 – Nguyễn Thị C được UBND
thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất trên với diện
tích 321,9 m2 (trong đó, đất ở 200m2, đất nông nghiệp 121,9 m2); nhưng bản vẽ
hiện trạng nhà đất ngày 13/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
thành phố H thể hiện diện tích 291,5 m2, có sự biến động giảm diện tích là do có
sự chỉnh lý về diện tích phía Sông Hương.
Kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại Phòng Quản lý đô thị thành phố H
về việc quy họach và tách thửa như sau: Theo Quyết định số 597/QĐ-UBND
ngày 19/3/2021 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành Quy định
quản lý xây dựng theo đồ án Quy họach hai bờ sông Hương; diện tích phân lô
tối thiểu là 100m2 (không tính phần diện tích đất thuộc chỉ giới đường đỏ, chỉ
giới đất sông, hồ và hành lang bảo vệ). Theo Quyết định số 49/2021/QĐ-UBND
ngày 25/8/2021 của UBND tỉnh quy định về tách thửa đối với đất ở và đất nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có hiệu lực từ ngày 05/9/2021, trong
đó: Diện tích lô đất (phân lô khu ở mới): >= 100 m 2; Kích thước cạnh mặt tiền:
>= 4,0m; Kích thước cạnh tiếp giáp với cạnh mặt tiền (theo hướng vuông góc)
>= 5,0m.
Kết quả định giá tài sản ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá
và bản vẽ hiện trạng nhà đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày
13/8/2022 xác định: Nhà đất thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại số
292B C1, phường G, thành phố H với diện tích 291,5 m2 gắn liền với ngôi nhà
cấp 4 (01 tầng) có diện tích xây dựng là 104,6 m2 có tổng giá trị là
3.040.271.575 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn
Thị C, bị đơn ông Nguyễn Văn P và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đứng phía nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của anh H2,
anh Q1 thống nhất yêu cầu như sau:
ác định di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1 là ngôi nhà cấp 4 (01
tầng) có diện tích xây dựng là 52,3 m2 có giá trị là 125.271.575 đồng và diện
tích thửa đất là 145,75 m2 có giá trị 2.915.000.000 đồng thuộc thửa đất số 33, tờ
bản đồ 20 tọa lạc tại số 292 B C1, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
có tổng giá trị 3.040.271.575 đồng (diện tích đất và nhà thống nhất chia theo bản
vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H đo vẽ ngày 13/8/2022).
Di sản thừa kế hiện nay do vợ chồng ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Kim L1
đang quản lý, sử dụng. ác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ1
gồm 06 người là các ông, bà: Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Th1; Nguyễn Văn P1;
Nguyễn Văn P; Nguyễn Thị Bích V và Nguyễn Văn V1. Ông Nguyễn Văn P1
chết năm 2021, nên những người thừa kế của ông P1 gồm mẹ là bà Nguyễn Thị
C và các con là Nguyễn Duy H2 , Nguyễn Duy Q1 được đồng sở hữu một kỷ
phần thừa kế của ông P1; ông Nguyễn Văn P1 có vợ là bà Hồ Thị C tức Hồ Mai
L2 nhưng đã ly hôn từ năm 2014 nên không được hưởng thừa kế của ông
Nguyễn Văn P1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 13 tháng 10 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định:
Căn cứ khỏan 5 Điều 26; các Điều 37; Điều 41, Điều 147, Điều 164, Điều
165, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 611, 612, Điều 613, Điều 620, 623, Điều 649, Điều
650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều của 33 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; Điều 100, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013;
điểm đ khỏan 1, khỏan 3 Điều 12, Điều 13, khỏan 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án; tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
2. ác định thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1 là ngày
22/6/2017.
3. ác định di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1 là ngôi nhà cấp 4
(01 tầng) kết cấu tường bờ lô, mái ngói, nền gạch, xi măng có diện tích xây
dựng 52,3 m2 và diện tích đất là 145.75 m2, thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số
20, tọa lạc tại số 292B đường C1, phường G, thành phố H đã được UBND thành
phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị C vào ngày 25/8/2008, có tổng giá trị nhà và đất là
3.040.271.575 đồng (Ba tỷ không trăm bốn mươi triệu hai trăm bảy mượi mốt
ngàn năm trăm bảy mươi lăm đồng).
4. ác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ1 gồm 06
người là các ông, bà: Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Th1; Nguyễn Văn P1; Nguyễn
Văn P; Nguyễn Thị Bích V và Nguyễn Văn V1.
Ông Nguyễn Văn P1 chết năm 2021, nên những người thừa kế của ông P1
gồm bà Nguyễn Thị C, các con là Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy Q1 được đồng
sở hữu một kỷ phần thừa kế của ông P1.
5. P1 thức chia di sản thừa kế được xác định như sau:
- ngôi nhà cấp 4 (01 tầng) kết cấu tường bờ lô, mái ngói, nền gạch, xi
măng có diện tích xây dựng 52,3 m2 và diện tích đất là 145.75 m2 thuộc
thửa đất số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại số 292B đường C1, phường G, thành
phố H đã được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đất đứng
tên ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị C vào ngày 25/8/2008, có tổng giá
trị nhà và đất là 3.040.271.575 đồng: 06 kỷ phần thừa kế = 506.711.929 đồng.
Mỗi kỷ phần thừa kế được chia có giá trị 506.711.929 đồng. Các ông, bà
Nguyễn Thị Th1; Nguyễn Thị Bích V; Nguyễn Văn V1; các anh Nguyễn Duy
H2, Nguyễn Duy Q1 tự nguyện giao tòan bộ kỷ phần của các ông, bà, các anh
được hưởng cho bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng và sở hữu, nên bà C
được hưởng giá trị thừa kế tổng cộng là 2.533.559.645 đồng. Giao tòan bộ hiện
vật là nhà, đất thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại số 292B đường C1,
phường G, thành phố H, đã được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị C vào
ngày 25/8/2008, cho bà Nguyễn Thị C được quyền sở hữu và sử dụng (có bản vẽ
kèm theo).
Bà Nguyễn Thị C phải giao giá trị bằng tiền cho ông Nguyễn Văn P theo
kỷ phần ông P được hưởng là 506.711.929 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bảy
trăm mười một nghìn chín trăm hai mươi chín đồng). Thời hạn giao tiền là kể từ
khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Nguyễn Thị C có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để chuyển đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Gia đình ông Nguyễn Văn P có quyền lưu cư trong thời hạn 06 ( sáu)
tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngòai ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo
Ngày 24 -10-2023, bị đơn ông Nguyễn Văn P và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim L1 kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, yêu
cầu chia thừa kế bằng hiện vật với diện tích 50m2; ông P, bà L1 sẽ thối trả chênh
lệch.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
kiến của đại diện Viện ki m sát nh n d n cấp cao tại à N ng:
Do kỷ phần thừa kế của ông P không đủ diện tích để tách thửa theo qui
định của địa phương nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu chia thừa kế bằng
hiện vật. Tuy nhiên, ông P có công sức trong việc giữ gìn, bảo quản di sản từ
năm 2012 đến nay, đề nghị trích công sức cho ông P tương đương một kỷ phần
thừa kế. Như vậy, di sản thừa kế chia thành 07 phần, bà C được nhận 05 phần,
ông P được nhận 02 phần. Giao tòan bộ ngôi nhà, đất cho bà C được quyền sở
hữu, sử dụng và bà C thối trả giá trị cho ông P. Tại đơn kháng cáo, ông P có đề
nghị miễn án phí, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xét miễn án phí dân sự sơ
thẩm và phúc thẩm cho ông P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Đ1 và bà C có 06 người con chung gồm: Nguyễn Thị Th1,
Nguyễn Văn Q2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị Bích V, Nguyễn
Văn V1. Ông Đ1 chết năm 2017 không để lại di chúc.
[2] Tài sản chung do vợ chồng bà C và ông Đ1 tạo lập là nhà, đất thuộc
thửa đất số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại số 292B đường C1, phường G, thành
phố H có diện tích 321,9 m2 (đất ở 200 m2, đất nông nghiệp 129,1 m2), được
UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông
Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị C ngày 25/8/2008.
[3] Di sản thừa kế của ông Đ1 để lại được xác định là 1/2 giá trị nhà, đất
trong khối tài sản chung với bà C là quyền sử dụng đất có diện tích 145,75m2,
quyền sở hữu nhà có diện tích 52,3m2 có tổng giá trị là: 3.040.271.575 đồng.
Ông Nguyễn Văn Q2 đã có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Tòa án cấp sơ
thẩm xác định những người thừa kế theo pháp luật của ông Đ1 còn 06 người,
gồm: Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Th1, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Văn P, Nguyễn
Thị Bích V và Nguyễn Văn V1 là có căn cứ. Ông Nguyễn Văn P1 chết năm
2021, nên những người thừa kế của ông P1 gồm bà Nguyễn Thị C, các con là
Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy Q1 được đồng sở hữu một kỷ phần thừa kế của
ông P1.
[4] Ngọai trừ ông Nguyễn Văn P, các đồng thừa kế gồm các ông, bà
Nguyễn Thị Th1, Nguyễn Thị Bích V, Nguyễn Văn V1, các anh Nguyễn Duy
H2, Nguyễn Duy Q1 tự nguyện giao tòan bộ kỷ phần của các ông, bà, các anh
được hưởng cho bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng và sở hữu. Như vậy, bà
C được hưởng 05 kỷ phần thừa kế. Ông Nguyễn Văn P được hưởng 01 kỷ phần
thừa kế, tương ứng quyền sở hữu nhà ở là 8,71 m2 và quyền sử dụng đất là 24,29
m2.
[5] ét kháng cáo của ông P yêu cầu nhận thừa kế bằng hiện vật, thấy
rằng:
Kỷ phần thừa kế của ông Nguyễn Văn P được hưởng tương ứng với diện
tích đất là 24,29 m2, diện tích nhà là 8,71 m2. Theo văn bản của Phòng Quản lý
đô thị thành phố H, thửa đất tại vị trí tranh chấp nằm trong diện quy họach hai
bờ sông Hương, diện tích để tách thửa được phải lớn hơn hoặc bằng 100 m2,
theo Quyết định số 597/QĐ-UBND ngày 19/3/2021 của UBND tỉnh Thừa Thiên
Huế về việc ban hành Quy định quản lý xây dựng theo đồ án quy họach hai bờ
sông Hương và Quyết định số 49/2021/QĐ-UBND ngày 25/8/2021 của UBND
tỉnh quy định về tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế có hiệu lực từ ngày 05/9/2021. Vì vậy, diện tích đất mà ông
Nguyễn Văn P được chia thừa kế không đủ để làm thủ tục tách thửa, xây dựng
nhà ở; bà C và các đồng thừa kế khác không đồng ý chia cho ông P thừa kế bằng
hiện vật với diện tích 100m2 nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
này của ông Nguyễn Văn P là có căn cứ, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng
cáo của ông P yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật.
[6] Mặc dù đơn kháng cáo của ông P không có yêu cầu cụ thể về việc xem
xét công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông P có yêu cầu xem xét công sức đóng
góp vào việc giữ gìn, tôn tạo di sản. Xét bà C ở tại nhà đất nêu trên đến 2012
xuất cảnh sang Mỹ, vợ chồng ông P là người có công sức bảo quản, duy trì tài
sản thừa kế từ năm 2012 đến nay. Do đó, cần xem xét công sức đóng góp của vợ
chồng ông P trong việc giữ gìn và tôn tạo di sản, nên trích công sức cho ông P
tương đương một kỷ phần thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Án lệ số
05/2016/AL để xem xét công sức của ông P trong việc việc giữ gìn, tôn tạo di
sản là không đúng.
[7] Vì vậy, di sản thừa kế được chia thành 07 kỷ phần, mỗi kỷ phần có giá
trị: 3.040.271.575 đồng/7 = 434.324.51 0,7đồng. Bà C được nhận 05 kỷ phần,
tương ứng giá trị: 434.324.51 0,7đồng x 5 = 2.171.622.55 3đồng; ông P được
nhận 01 kỷ phần và công sức giữ gìn, bảo quản di sản (một kỷ phần), tương ứng
giá trị: 434.324.510,7đồng x 2 = 868.649.022đồng.
[8] Do các thừa kế khác gồm các ông, bà Nguyễn Thị Th1, Nguyễn Thị
Bích V, Nguyễn Văn V1, các anh Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy Q1 tự nguyện
giao tòan bộ kỷ phần của các ông, bà, các anh được hưởng cho bà Nguyễn Thị C
được quyền sử dụng và sở hữu, nên giao tòan bộ di sản thừa kế cho bà C được
quyền sở hữu, sử dụng; bà C thối trả cho ông P: 868.649.022đồng.
[9] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị C được hưởng 1 kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp
luật tương ứng với số tiền 434.324.510,7đồng. Bà C là người cao tuổi và có đơn
đề nghị miễn án phí, theo Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà C.
Đối với kỷ phần bà Nguyễn Thị Th1, bà Nguyễn Thị Bích V, ông Nguyễn
Văn V1, anh Nguyễn Duy H2 và Nguyễn Duy Q1 tự nguyện nhường lại cho bà
C được hưởng, căn cứ vào khỏan 3 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, thì bà C vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với
những kỷ phần này (4 kỷ phần), tương ứng với số tiền là 1.737.298.042 đồng.
Do vậy, bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 36.000.000 đồng + (3% x
937.298.042 đồng) = 64.118.941đồng.
Ông Nguyễn Văn P có hòan cảnh kinh tế gia đình khó khăn, mắc bệnh
nặng (ông P phải chạy thận nhân tạo hằng tuần), có xác nhận của Ủy ban nhân
dân phường G; tại đơn kháng cáo ông P có đề nghị nên Hội đồng xét xử xét
miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông P.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khỏan 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị
Kim L1;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 13 tháng 10 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
2. ác định di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ1 là ngôi nhà cấp 4
(01 tầng) kết cấu tường bờ lô, mái ngói, nền gạch, xi măng có diện tích xây
dựng 52,3 m2 và diện tích đất là 145.75 m2, thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số
20, tọa lạc tại số 292B đường C1, phường G, thành phố H đã được UBND thành
phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị C vào ngày 25/8/2008, có tổng giá trị nhà và đất là
3.040.271.575 đồng (ba tỷ không trăm bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi mốt
ngàn năm trăm bảy mươi lăm đồng).
3. ác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ1 gồm 06
người là các ông, bà: Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Th1; Nguyễn Văn P1; Nguyễn
Văn P; Nguyễn Thị Bích V và Nguyễn Văn V1.
Ông Nguyễn Văn P1 chết năm 2021, nên những người thừa kế của ông P1
gồm bà Nguyễn Thị C, các con là Nguyễn Duy H2, Nguyễn Duy Q1.
4. Chia di sản thừa kế như sau:
Giao tòan bộ hiện vật là nhà, đất thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 20, tọa lạc
tại số 292B đường C1, phường G, thành phố H, đã được Ủy ban nhân dân thành
phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đ1 và
bà Nguyễn Thị C vào ngày 25/8/2008, cho bà Nguyễn Thị C được quyền sở hữu
và sử dụng.
Bà Nguyễn Thị C phải thanh tóan giá trị bằng tiền cho ông Nguyễn Văn P
01 kỷ phần ông P được hưởng và công sức bảo quản di sản là 868.649.022đồng
(tám trăm sáu mươi tám triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn không trăm hai
mươi hai đồng). Thời hạn giao tiền kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Nguyễn Thị C có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để chuyển đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Gia đình ông Nguyễn Văn P có quyền lưu cư trong thời hạn 06 (sáu)
tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị C phải nộp: 64.118.941đồng.
Ông Nguyễn Văn P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
6. Án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn P.
Hòan trả cho ông P 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại
biên lai số 0000054 ngày 20/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa
Thiên Huế.
7. Về chi phí định giá: bà Nguyễn Thị C tự nguyện chịu tòan bộ chi phí
định giá, đo đạc và đã nộp đủ tại Tòa án nhân dân thành phố H.
8. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các
khỏan tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khỏan 2 Điều 468 Bộ
luật dân sự năm 2015.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân
sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự
năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Cục THADS tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
( ã ký)
Lê Tự
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
