Bản án số: 50/2024/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 03/2016/AL |
| Ngày thông qua | 2024-02-01 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 50/2024/DS-PT
Ngày: 01/02/2024
“Tranh chấp về thừa kế tài sản; hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; tranh chấp
Hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Nam;
Ông Phạm Đình Khánh;
Bà Hòang Thị Bích Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nh ật Phong – Thư ký Tòa án nhân dân c ấp
cao tại Hà Nội.
Đại di ện Viện ki ểm sát nhân dân c ấp cao t ại Hà N ội tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Minh Nghĩa, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân c ấp cao t ại Hà
Nội mở phiên tòa công khai xét x ử phúc th ẩm v ụ án dân s ự thụ lý số
349/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 9 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế
tài sản; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-
ST ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x ử số 236/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng
01 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn : Ông Phạm Văn H , sinh năm 1957; nơi cư trú : Tổ 6,
phường N, quận D, thành phố P; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn H:
- Bà Ngô Thị S – Văn phòng lu ật sư T và cộng s ự thuộc Đòan lu ật sư
thành phố P; Có mặt.
- Ông Nguyễn Mạnh A – Văn phòng luật sư M thuộc Đòan luật sư thành
phố P; Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Mạnh P (đã chết 22/01/2022);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Mạnh P:
1. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1955; nơi cư trú: Số nhà 168 đư ờng N, Tổ
dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P; Có mặt.
2. Anh Phạm Hồng K, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 18G, ngõ 33 đường O,
phường Q, quận L, thành phố P; Vắng mặt.
3. Anh Phạm Hùng B , sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà 6A2/91/24 Z,
phường Q, quận L, thành phố P; Vắng mặt.
4. Ch ị Phạm Thị Vân V , sinh năm 1983; nơi cư trú: S ố nhà 138, T ổ 3
phường N, quận D, thành phố P; Có mặt.
5. Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Số nhà 168, Tổ dân
phố số 6, phường N, quận D, thành ph ố P; nơi ở hiện nay: S ố nhà 3A/11 W,
quận G, thành phố P; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm Tiến
D: Công ty Lu ật TNHH MTV P1; địa chỉ trụ sở: Số 52A T1, phường C1, quận
L, thành phố P;
Người đại diện theo pháp luật của Công ty Luật TNHH MTV P1 đồng thời
là người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm Tiến D:
Ông Nguyễn Anh V1; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức D1, sinh năm 1976; địa
chỉ: Số 52A T1, phường C1, quận L, thành phố P; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1955; nơi cư trú: Số nhà 168 đư ờng N, Tổ
dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P; Có mặt.
2. Anh Phạm Hồng K, sinh năm 1978; ch ị Hà Thị Thanh H1, sinh năm
1979; cùng nơi cư trú: Số 18G, ngõ 33 đư ờng O, phường Q, quận L, thành phố
P; Vắng mặt.
3. Anh Phạm Hùng B, sinh năm 1979; chị Phạm Thị P1, sinh năm 1981;
cùng nơi cư trú: Số nhà 6A2/91/24 Z, phường Q, quận L, thành ph ố P; Vắng
mặt.
4. Chị Phạm Thị Vân V, sinh năm 1983; anh Đỗ Đăng B1, sinh năm 1981;
cùng nơi cư trú: Số nhà 138, Tổ 3 phường N, quận D, thành phố P; Có mặt.
5. Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1985 và chị Nguyễn Thị Mai A1, sinh năm
1990; cùng nơi ĐKHKTT: Số nhà 168 đường N, Tổ dân phố số 6, phường N, quận
D, thành phố P; cùng nơi ở hiện nay: Số nhà 3A/11 W, quận G, thành phố P; Vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm Tiến
D: Công ty Lu ật TNHH MTV P1; địa chỉ trụ sở: Số 52A T1, phường C1, quận
L, thành phố P;
Người đại diện theo pháp luật của Công ty Luật TNHH MTV P1 đồng thời
là người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm Tiến D:
Ông Nguyễn Anh V1; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức D1, sinh năm 1976; địa
chỉ: Số 52A T1, phường C1, quận L, thành phố P; Có mặt.
6. Ông Nguyễn Tuấn N1 (đã chết ngày 02/5/2017);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tuấn N1:
6.1. Bà Bùi Thị Kim M1, sinh năm 1974; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
6.2. Chị Nguyễn Anh E1, sinh năm 2002; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
6.3. Chị Nguyễn Anh F, sinh năm 2004; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Số 15/100 Z1, phường F1, quận G, thành phố P;
7. Bà Bùi Thị Kim M1, sinh năm 1974; nơi cư trú: S ố 15/100 Z1, phường
F1, quận G, thành phố P; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
8. Anh Trịnh Quang Q1 , sinh năm 1983; ch ị Phạm Th ị E2, sinh năm
1987; cùng nơi ĐKHKTT: Xóm 8 thôn Q1, xã G1, huyện G2, tỉnh N2; nơi ở
hiện nay: Số 70M/70 D2, phường H2, quận L, thành phố P; Vắng mặt.
9. Chị Vũ Thị Thu G3, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: S ố 4/10/32 Khu
dân cư Phú H ải, phường O1, quận D, thành phố P; nơi ở hiện nay: Số 9/29 ngõ
25 đường T1, phường Q, quận L, P; Vắng mặt.
10. Anh Lê Thanh A2 , sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: T ổ dân phố số 3,
phường R, quận T2, thành phố H3; nơi ở hiện nay: S ố 9/29 ngõ 25 đư ờng T1,
phường Q, quận L, P; Vắng mặt.
11. Ông Phạm Văn Q2 , sinh năm 1982 và bà Bùi Thị Mai L1, sinh năm
1982; cùng nơi cư trú: S ố nhà 168A đường N, tổ 6 (cũ là t ổ 8) phường N, quận
D, thành phố P; Vắng mặt.
12. Ngân hàng Thương mại Cổ phần X; địa chỉ trụ sở: Số 41, 45 đường Lê
Duẩn, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố M2;
Người đại diện theo pháp lu ật của Ngân hàng Thương m ại Cổ phần X:
Ông Tr ịnh Văn Tu ấn; ch ức v ụ: Ch ủ tịch H ội đ ồng qu ản tr ị của Ng ân hàng
Thương mại Cổ phần X; Vắng mặt.
Người đại diện theo u ỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Minh T3, sinh năm 1989
hoặc/và ông Đinh Hùynh K2, sinh năm 1996; chức vụ: Đều là Cán bộ THN hiện
trường – Ngân hàng TMCP X; Có mặt.
13. Ngân hàng TMCP X1; địa chỉ trụ sở: Số 442 W2, Phường 05, quận 3,
Thành phố M2 (địa chỉ chi nhánh: S ố 15 phố D3, phường K3, quận B3, thành
phố P);
Người đ ại di ện theo ủy quy ền: Ông Nguyễn Quang T4 , ch ức v ụ: Giám
đốc xử lý nợ; địa chỉ liên lạc: Tầng 2, số 15 D3, phường K3, quận B3, thành phố
P; Có mặt.
14. Ủy ban nhân dân quận D, thành phố P; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ th ẩm và các tài li ệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn
ông Phạm Văn H trình bày:
Bố mẹ đẻ của ông H là cụ Phạm Duy L3 (chết năm 1959) và c ụ Trần Thị
C3 (tên gọi theo tên con trai trư ờng là Trần Thị H4, chết năm 2010). Cụ L3 và
cụ C3 sinh được 02 người con là ông Phạm Mạnh P và ông Phạm Văn H. Năm
1965, cụ Trần Thị C3 được Ủy ban hành chính xã N, huyện K3, thành phố P cấp
diện tích đất để làm nhà ở là 1.800m2; địa chỉ hiện nay là số nhà 168 và 170, Tổ
dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P. Trên diện tích đất này có căn nhà
03 gian tường gạch, mái ngói xi măng, di ện tích xây dựng 50m2, xây dựng năm
1980. Ông H cùng anh em b ạn bè, h ọ hàng đã đóng g ạch để xây ngôi nhà. Cụ
C3 sinh sống tại ngôi nhà này cho đ ến khi chết. Đến năm 2011, ông A mới xây
ngôi nhà số 168 như hiện nay. Vào ngày 28/10/2020, ông A đã cho xe xúc phá
dỡ ngôi nhà mà cụ C3 để lại.
Theo sổ Mục kê năm 1995, thửa đất số 30, diện tích 1.056m2, thửa số 31,
diện tích 825m2. Cụ C3 cùng hai con sinh sống trên các thửa đất này từ đó. Đến
năm 1972, ông A đi bộ đội. Đến năm 1976, ông A lập gia đình và đư ợc Quận
đội cấp cho đất ở tại xã B2 (nay là số 335 đường C2, tổ dân phố số 1A, phường
B2, quận D, thành phố P). Năm 1982, ông H lập gia đình và năm 1983 vợ chồng
ông H ra ở riêng. Cụ C3 sinh sống trên th ửa đất này cho đ ến khi ch ết là năm
2010. Cụ C3 chết không để lại di chúc.
Theo thông tin do U ỷ ban nhân dân quận D cung cấp thì Ủy ban quận đã
có Quyết định công nhận diện tích đất 1.881m2, tại thửa đất số 30, 31, tờ bản đồ
số 07; địa chỉ: Số nhà 168, 170, tổ dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P
cho người sử dụng là ông Phạm Mạnh P và đã c ấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng di ện tích đ ất 1.881m 2 đứng tên ông Phạm M ạnh P . T ại h ồ sơ c ấp gi ấy
chứng nhận cho ông A, Ủy ban phường N xác nhận nguồn gốc sử dụng đất trước
ngày 18/12/1980, chủ sử dụng là ông Phạm Mạnh P. Tuy nhiên, theo sổ Mục kê
và Bản đồ giải thửa lưu trữ tại Ủy ban phường N thì thửa đất số 30, 31 đứng tên
chủ sử dụng là “Trần V Hà”. Đây là tên c ủa cụ C3 gọi theo tên con trưởng. Các
cụ cao tuổi trong làng cũng xác nh ận thửa đất này là c ủa cụ C3 được Ủy ban
hành chính cấp từ năm 1965. Thời điểm này cả ông A và ông H còn nhỏ. Ông A
đi bộ đội đến khi về hưu, năm 2007 m ới về ở trên thửa đất này tại ngôi nhà cũ
của cụ C3. Đến năm 2011, ông A mới xây d ựng nhà mới số 168 như hiện nay.
Khi cụ C3 còn sống chưa có văn bản cho vợ chồng ông A thửa đất này. Do vậy,
Ủy ban nhân dân qu ận D cấp giấy chứng nhận quyền s ử dụng đất cho ông A
được quyền sử dụng thửa đất là không đúng pháp lu ật. Năm 2018, ông H thấy
vợ chồng ông Q2, bà L1 xây dựng nhà ở trên thửa đất của cụ C3 thì ông H mới
biết diện tích đất của cụ C3 đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông A. Ông
A đã chia tách cho các con c ủa ông gồm anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B
mỗi người diện tích 200m2 đất; anh Phạm Tiến D diện tích 215m2 đất; chị Phạm
Thị Vân V được diện tích 125m2 đất. Diện tích đ ất chị V được chia đã chuy ển
nhượng cho vợ chồng ông Phạm Văn Q2 và bà Bùi Thị Mai L1. Hiện vợ chồng
ông Q2, bà L1 đã xây dựng nhà ở trên diện tích đất này là nhà s ố 168A. Ông A
còn chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Tuấn N1 và bà Bùi Thị Kim M1
một phần diện tích, cụ thể là bao nhiêu thì ông H không nắm được.
Ngòai di ện tích đ ất nêu trên, thì cụ C3 còn đ ể lại di ện tích đ ất nông
nghiệp được giao theo Ngh ị định số 64/CP và Quy ết định số 03 năm 1994 c ủa
Ủy ban nhân dân thành phố P theo tiêu chuẩn mỗi nhân khẩu được giao diện tích
là 540m2.
Nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Chia di sản thừa kế
của cụ Trần Thị C3 để lại là căn nhà c ấp 4, ba gian, mái ngói, di ện tích khỏang
50m2 và di ện tích đ ất là 1.881 m2 đất ở và đ ất vư ờn, ao; đ ịa ch ỉ số 168, 170
đường N, Tổ 6, phường N, quận D, thành ph ố P và diện tích đ ất nông nghi ệp
540m2; địa chỉ: Phường N, quận D, thành phố P cho ông Phạm Mạnh P và ông
Phạm Văn H mỗi người được 50% di sản của cụ C3 để lại. Đề nghị Tòa án tuyên
hủy quyết định của Ủy ban nhân dân qu ận D về việc công nh ận quyền sử diện
tích đất 1.881m2 đất ở, ao; địa chỉ số 168, 168A, 170 đường N, Tổ 6, phường N,
quận D, thành ph ố P cho ch ủ sử dụng đ ất là ông Phạm Mạnh P và hu ỷ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân quận D cấp cho ông Phạm
Mạnh P được quyền sử dụng diện tích đất 1.881m2 đất ở, ao.
Ngày 10/5/2023, ông H có đơn đề nghị không yêu cầu chia di sản thừa kế
là căn nhà cấp 4 ba gian, mái l ợp ngói vì ngôi nhà đã x uống cấp, không còn giá
trị sử dụng.
Tại phiên hòa gi ải ngày 15/02/2023, ông H xác nhận diện tích đ ất nông
nghiệp ông H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C3 bao gồm các thửa:
Thửa số 142, tờ bản đồ số 07, tại xứ L4, diện tích 350m2; thửa số 85, tờ bản đồ
số 07 xứ Z3, diện tích 414m 2; thửa số 428, tờ bản đồ số 07 tại xứ Z4, diện tích
700m2.
Đối v ới yêu c ầu độc l ập của ngư ời có quy ền l ợi, nghĩa v ụ liên quan ,
nguyên đơn không có ý ki ến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy đ ịnh của
pháp luật.
Tại các b ản t ự khai và quá trình gi ải quy ết v ụ án, b ị đơn – ông Phạm
Mạnh P; người kế thừa quyền, nghĩa v ụ tố tụng của ông Phạm Mạnh P đồng
thời cũng là ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án – bà Phạm Thị
C; anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B, chị Phạm Thị Vân V, anh Phạm Tiến
D thống nhất trình bày:
Bị đơn, những người kế thừa quyền, nghĩa v ụ tố tụng của bị đơn, những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đều nhất trí với lời trình bày của
ông H về quan hệ thuyết thống gia đình ông A, ông H. Cụ Phạm Duy L3 (chết
năm 1959) và c ụ Trần Thị C3 (chết ngày 03/3/2010) sinh đư ợc 02 ngư ời con
chung là ông A và ông H. Các cụ không có con nuôi, con riêng. Ông H trình bày
cụ C3 có tên là Trần Thị H4 là không đúng vì cụ C3 chỉ có tên duy nhất là Trần
Thị C3, ngòai ra không còn tên g ọi nào khác. Ông Phạm M ạnh P (chết ngày
22/01/2022) và bà Phạm Thị C sinh được bốn người con (không có con nuôi,
con riêng) là anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B , anh Phạm Tiến D và chị
Phạm Thị Vân V.
Khi mới lấy nhau, Cụ L3 và cụ C3 ở nhờ nhà em trai là c ụ Trần Văn T4,
địa chỉ: Tổ dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P. Về nguồn gốc diện
tích đất 1.881m2; địa chỉ: Tổ dân phố số 6, phường N, quận D, thành phố P hiện
đang tranh chấp là của cụ Trần Thị C3 được Hợp tác xã cấp năm 1965. Cụ C3 và
hai con là ông A, ông H sinh sống trên diện tích đất này. Đến năm 1976, ông A
kết hôn với bà C và sinh sống tại diện tích đất này từ đó cho đến nay.
Đến năm 1979, cụ C3 tiếp tục xin Hợp tác xã diện tích đất 02 sào; địa chỉ
ngõ 149, t ổ 6, phường N, quận D, thành ph ố P (trước gọi là c ửa ngòi) vì theo
quy định của địa phương nhà nào có hai con trai tr ở lên thì Hợp tác xã c ấp cho
một lô đất theo tiêu chuẩn. Cùng năm, cụ C3, vợ chồng ông A, bà C và ông H đã
thống nhất, đồng ý phân chia di ện tích đ ất cụ C3 đã được Hợp tác xã c ấp năm
1965 cho vợ chồng ông A, bà C và vợ chồng ông A ở cùng cụ C3. Còn diện tích
đất cụ C3 xin cấp năm 1979 thì cho ông H. Sau đó, cụ C3 đã ra chính quyền địa
phương khai báo về việc phân chia đất cho hai người con trai để ghi vào sổ mục
kê và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế.
Năm 1980, cụ C3 cùng vợ chồng ông A đã dỡ căn nhà tre ba gian chuyển
sang diện tích đ ất cụ C3 đã phân chia cho ông H để làm nhà cho ông H. Đến
năm 1982, ông H lấy vợ và sinh sống tại diện tích đ ất này t ừ thời điểm đó cho
đến nay. Còn v ợ chồng ông A vay mượn thêm đ ể xây ba gian nhà g ạch, mái
ngói. Năm 2010, v ợ chồng ông A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
diện tích 1.181m2 đất. Như v ậy, diện tích đ ất này đã đư ợc cụ C3 chia cho v ợ
chồng ông A từ trước năm 1982 nên không còn là tài s ản của cụ C3 như ông H
trình bày. Sau khi đư ợc cấp giấy chứng nhận, thì vợ chồng ông A, bà C đã tặng
cho 04 người con, 03 người con trai mỗi người được 200m2, còn con gái là chị V
được cho t ặng 125m2. Đồng thời, vợ chồng ông A chuyển nhượng cho ông N1
diện tích 225 m2 đất và chuyển nhượng cho anh Q1 100m2. Sau khi được bố mẹ
tặng cho, chị V đã chuy ển như ợng cho nhi ều ngư ời, ngư ời cu ối cùng nh ận
chuyển nhượng là v ợ chồng ông Q2, bà L1. Hiện ông Q2, bà L1 đã xây d ựng
nhà và sinh sống tại đó.
Đối với diện tích đ ất 100m2; địa chỉ số 335 đường C2, phường B2, quận
D, thành phố P do Bộ chỉ huy quân sự thành phố P cấp cho vợ chồng ông A, bà
C nhưng vợ chồng bà C không sinh sống tại diện tích đất này như l ời trình bày
của ông H mà sinh sống cùng cụ C3 trên diện tích đất 1.881m2. Hiện vợ chồng
bà C đã cho con trai là anh B diện tích đất được quận đội cấp.
Về diện tích đất nông nghiệp: Năm 1993, theo quy định của pháp luật, gia
đình bà C được giao đất nông nghiệp gần một mẫu, bao gồm các thành viên: Cụ
C3, bà C (là chủ hộ), anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B, chị Phạm Thị Vân
V và anh Phạm Tiến D được cấp gần một mẫu, cụ thể: Cánh đồng ông T4 có gần
một sào; cánh đ ồng Lò g ạch có 02 m ảnh, m ột m ảnh kho ảng 14 thư ớc và 01
mảnh 02 sào 04 thư ớc; cánh đ ồng ông Cạ Đầu G3 có di ện tích 414m 2; cánh
đồng D4 là 02 sào 10 thước; cánh đồng M3 01 mảnh là 02 sào. Ông H trình bày
cụ C3 được giao diện tích đất nông nghiệp là đúng, tuy nhiên, diện tích đất nông
nghiệp của cụ C3 không xác định được vị trí tại cánh đồng nào vì nhà nư ớc chỉ
giao theo kh ẩu của gia đình. Năm 2021, v ợ chồng bà C đã chuyển nhượng hai
sào tại cánh đồng M3 cho người khác.
Những người kế thừa quyền, nghĩa v ụ tố tụng của bị đơn không đ ồng ý
với yêu c ầu khởi kiện của ông H về việc phân chia di s ản thừa kế diện tích đất
1.881m2 và hu ỷ quyết đ ịnh cũng như gi ấy ch ứng nh ận quy ền s ử dụng đ ất đã
đứng tên ông A, bà C vì diện tích đất này cụ C3 đã phân chia cho vợ chồng ông
A, bà C từ năm 1982. Đối với yêu cầu chia di s ản thừa kế là diện tích đất nông
nghiệp của cụ C3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối v ới yêu c ầu độc lập của người có quy ền l ợi, nghĩa v ụ liên quan là
Ngân hàng X: Bà C xác nhận vợ chồng bà C có ký Hợp đồng thế chấp với Ngân
hàng X để bảo đảm cho khỏan vay của vợ chồng con gái là chị V và anh B1. Tài
sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích đất 831m2, tại thửa đất số 30, tờ bản đồ
số 07 (là diện tích đất còn lại đứng tên ông A, bà C sau khi đã tách cho các con
và chuyển nhượng). Hiện ngôi nhà 02 tầng, xây dựng năm 2011 trên cả thửa đất
đứng tên vợ chồng bà C và cả thửa đất đứng tên anh D. Ngôi nhà được xây bằng
nguồn ti ền c ủa v ợ chồng bà C và anh Phạm Ti ến D , t ổng c hi phí là
1.600.000.000 đồng, trong đó v ợ chồng bà C đóng góp 600.000.000 đ ồng, còn
vợ chồng anh D đóng góp 1.000.000.000 đ ồng. Khi nh ận th ế chấp, do Ngân
hàng X không h ỏi v ợ chồng bà C tình tr ạng tài s ản th ế chấp nên bà C cũng
không thông tin v ề việc ngôi nhà xây d ựng trên hai th ửa đất cho Ngân hàng X.
Nay Ngân hàng X khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị V phải trả số tiền còn nợ và
đề nghị phát mại tài sản thế chấp thì đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của Ngân
hàng X theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trư ờng hợp phải phát mại
tài sản thế chấp sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị sử dụng ngôi nhà xây trên hai thửa
đất, dẫn đến lãng phí và thiệt hại nên bà C cùng những người thừa kế của ông A
(anh Kiên, anh B, anh D, chị V) và vợ chồng anh D có nguyện vọng được thỏa
thuận với Ngân hàng X giảm lãi cho anh B1, chị V để có thể trả nợ hoặc thu xếp
kinh phí thực hiện quyền ưu tiên mua lại tài sản thế chấp.
Tại các bản tự khai ngày và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan gồm anh Phạm Hồng K, chị Hà Thị Thanh H1; anh Phạm
Hùng B, chị Phạm Thị P1; chị Phạm Thị Vân V, anh Đỗ Đăng B1; anh Phạm
Tiến D, chị Nguyễn Thị Mai A1 thống nhất trình bày:
Anh Kiên, anh B , chị V và anh D là con đ ẻ của ông A , bà C . Các ch ị
Hương, Phương và Thanh là con dâu c ủa ông A, bà C còn anh B1 là con rể của
ông A, bà C. Về nguồn gốc diện tích đ ất hiện ông H đang yêu c ầu chia di s ản
thừa kế thì các anh chị nhất trí với lời trình bày của ông A, bà C. Năm 2010, ông
A, bà C đã cắt chia cho các con mỗi người một phần diện tích đúng như lời trình
bày của ông A, bà C, cụ thể như sau:
Ngày 20/12/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành phố P cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00705/Q1 đứng tên người sử dụng
đất Phạm Hồng K được quyền sử diện tích đất ở tại đô thị 200m2, tại thửa đất số
30c, tờ bản đồ số 07.
Ngày 20/12/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành phố P cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00705/Q1 đứng tên người sử dụng
đất Phạm Hùng B được quyền sử dụng diện tích đất ở tại đô thị 200m2, tại thửa
đất số 30c, tờ bản đồ số 07. Năm 2012, vợ chồng anh B, chị F đã chuyển nhượng
100m2 cho chị Vũ Thị Thu G3 và cùng năm thì chị G3 đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đ ất còn l ại 100m2, anh B và chị F cũng đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã thế chấp giấy chứng nhận
này cho cá nhân đ ể vay tiền. Việc vợ chồng anh B, chị F vay tiền của cá nhân,
anh B, chị F tự giải quyết, không liên quan đến vụ án này.
Ngày 20/12/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành phố P cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00704/Q1 đứng tên người sử dụng
đất Phạm Thị Vân V được quyền sử diện tích đất ở tại đô thị 125m2, tại thửa đất
số 30c, tờ bản đồ số 07. Ngày 03/10/2017, anh B1, chị V đã chuyển nhượng diện
tích đất này cho vợ chồng ông Phạm Văn Q2 và bà Bùi Thị Mai L1.
Ngày 20/12/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành phố P cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00705/Q1 đứng tên người sử dụng
đất Phạm Tiến D được quyền sử dụng diện tích đất ở tại đô thị 200m2, tại thửa
đất số 30c, tờ bản đồ số 07. Sau khi được tặng cho diện tích đất, vợ chồng anh D
đã cùng bố mẹ là ông A, bà C xây nhà ở nằm cả trên thửa đất của ông A, bà C và
thửa đất đã đứng tên anh D. Trước đây, anh D có thế chấp giấy chứng nhận cho
ngân hàng để vay tiền nhưng hiện tại đã được giải chấp.
Ngòai ra, chị V còn trình bày năm 2020, anh B1, chị V có vay ti ền của
Ngân hàng X. Khỏan vay này có thế chấp bằng quyền sử dụng thửa đất đứng tên
ông A, bà C. Trong thời gian vay, hàng tháng vợ chồng chị V trả lãi và gốc theo
thỏa thuận. Nhưng khỏang 01 năm trở lại đây, do đại dịch Covid, công việc làm
ăn gặp khó khăn nên chưa tr ả được nợ cho Ngân hàng . Vợ chồng chị V đã đề
nghị Ngân hàng t ạo điều kiện giãn kho ản nợ đến tháng 12/ 2023. Trong trư ờng
hợp phải phát mại tài sản thế chấp sẽ ảnh hưởng đến giá trị ngôi nhà nên anh B1,
chị V đề nghị Ngân hàng X giảm lãi để chị V cùng bà C có thể thực hiện được
quyền ưu tiên mua lại thửa đất thế chấp.
Tại các bản t ự khai và quá trình gi ải quy ết v ụ án, ngư ời có quy ền l ợi,
nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị Kim M1, chị Nguyễn Anh E1, chị Nguyễn Anh
F thống nhất trình bày:
Bà M1 và ông N1 (đã chết năm 2017) là v ợ chồng, có hai con chung là
Nguyễn Anh E1 và Nguyễn Anh F. Năm 2010, vợ chồng bà M1 có nhận chuyển
nhượng của ông A, bà C diện tích đất ở 225m2, tại thửa đất số 30a, tờ bản đồ số
07. Trước khi chuyển nhượng thửa đất cho vợ chồng bà M1 thì ông A, bà C đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai bên có làm hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất theo quy đ ịnh pháp luật và ngày 20/12/2010, Ủy ban nhân dân
quận D, thành phố P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 240579,
số vào sổ cấp 00703/Q1 đ ứng tên v ợ chồng bà M1. Từ thời điểm nhận chuyển
nhượng đất đến nay, v ợ chồng bà M1 không có tranh ch ấp với ai. Do ông N1
chết nên ngày 28/7/2017, bà M1 cùng hai con đã làm Văn b ản khai nhận di sản
thừa kế tại Văn phòng Công chứng O2. Theo đó, những người thừa kế theo pháp
luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản thừa kế của ông N1 đối
với thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 07 gồm bố mẹ đẻ của ông N1 là cụ Nguyễn
Quốc K5 và cụ Nguyễn Thị S3, bà M1, chị Chi và chị F. Tuy nhiên, Văn bản từ
chối nhận di sản thừa kế lập ngày 28/7/2017 t ại Văn phòng Công ch ứng O2, cụ
K5 và cụ S2 đều từ chối nhận di sản thừa kế của ông N1 đối với thửa đất số 30a,
tờ bản đồ số 07.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan đến thửa đất số 30a, tờ
bản đồ số 07 của vợ chồng bà M1, đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho m ẹ con bà M1 vì việc nhận chuyển nhượng thửa đất của vợ
chồng bà M1 là hợp pháp. Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng X thì đề nghị
Tòa án gi ải quyết theo quy đ ịnh của pháp lu ật, không liên quan đến quyền lợi
hợp pháp của mẹ con bà M1.
Tại Bản tự khai ngày 16/5/2023 và quá trình gi ải quyết vụ án, người có
quyền lợi, nghĩa v ụ liên quan là anh Trịnh Quang Q1 , chị Phạm Thị E2 thống
nhất trình bày:
Năm 2012, anh Q1 và chị E2 có nh ận chuy ển như ợng diện tích đ ất ở
100m2, t ại th ửa đ ất s ố 30a, t ờ bản đ ồ số 07 c ủa ông A và bà C với s ố tiền
100.000.000 đồng. Tại thời điểm chuyển nhượng, ông A, bà C đã được cấp giấy
chứng nhận, không có tranh ch ấp với ai. Hai bên đã ti ến hành th ủ tục chuyển
nhượng theo quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của anh Q1 và chị E2. Anh Q1, chị E2 không đồng ý với yêu cầu
của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế đối với phần diện tích đất ông A, bà
C đã chuyển nhượng cho anh Q1, chị E2. Đối với yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Tại Bản tự khai ngày 06/5/2023 và quá tr ình giải quyết vụ án, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Thanh A2 và chị Vũ Thị Thu G3 thống
nhất trình bày:
Anh Hòan và chị G3 kết hôn năm 2021. Trước khi kết hôn, năm 2012 chị
G3 có nhận chuyển nhượng của anh B diện tích 100m 2 đất, được Ủy ban nhân
dân quận D, thành ph ố P cấp Giấy chứng nhận số vào sổ cấp GCN: 01196/Q1
ngày 21/02/2012 đ ứng tên ngư ời sử dụng Vũ Thị Thu G3 được quyền sử dụng
100m2 đất ở đô thị, tại thửa đất số 30d1, tờ bản đồ số 07. Anh Hòan, chị G3
thống nhất trình bày đây là tài sản riêng của chị G3 có trước khi kết hôn.
Ngày 19/11/2021, chị G3 đã thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 30d1, tờ
bản đồ số 07 để bảo đảm cho khỏan vay 950.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP
X1. Hiện tại, hàng tháng chị G3 vẫn trả lãi theo tho ả thuận tại hợp đồng, chưa
thanh tóan tòan bộ nợ gốc.
Đề nghị Tòa án b ảo vệ quyền l ợi hợp pháp cho chị G3 vì chị G3 nhận
chuyển nhượng thửa đất này h ợp pháp t ừ anh B, khi nh ận chuyển nhượng thì
anh B đã được cấp giấy chứng nhận.
Tại Bản tự khai ngày 08/5/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
bà Bùi Thị Mai L1 trình bày:
Năm 2017, vợ chồng bà L1 nhận chuyển nhượng diện tích 125m2 đất, tại
thửa đất số 30b, tờ bản đồ số 07 của chị Phạm Thị Vân V. Vợ chồng bà L1 đã
đăng ký thay đổi tên chủ sử dụng tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận
D tại Giấy chứng nhận quyền s ử dụng đất và tài s ản gắn liền v ới đ ất số phát
hành BB240288, s ố vào s ổ cấp GCN 00704/Q1 ngày 20/12/2010 c ủa Ủy ban
nhân dân quận D, thành phố P. Đến tháng 03 năm 2018, vợ chồng bà L1 đã xin
cấp phép và xây d ựng ngôi nhà 03 t ầng trên di ện tích đ ất này. T ại th ời đi ểm
nhận chuyển nhượng thửa đất và sinh s ống tại đây, v ợ chồng bà L1 không có
tranh chấp với ai. Đ ề nghị Tòa án b ảo vệ quyền lợi hợp pháp c ủa vợ chồng bà
L1 là người thứ ba ngay tình vì đã nh ận chuyển nhượng diện tích đất hợp pháp
từ chị V.
Tại Đơn yêu c ầu đ ộc l ập nh ận ngày 15/02/2023; B ản t ự khai ngày
16/02/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập là Ngân hàng Thương mại Cổ phần X trình bày:
Ngày 03/01/2020, Ngân hàng X ký k ết H ợp đ ồng tín d ụng s ố:
0003/2020/HDTD-OCB-CN và Kh ế ước nh ận n ợ số 0003/2020/KUNN-GCB-
CN với anh Đỗ Đăng B1 và chị Phạm Thị Vân V. Theo đó, Ngân hàng X cho
anh B1, chị V vay số tiền: 2.200.000.000 đ ồng; mục đích vay tiêu dùng; th ời
hạn: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất cho vay
trong hạn: Theo tho ả thuận tại khế ước nhận nợ và được điều chỉnh theo tho ả
thuận tại Khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho kho ản vay là quy ền sử dụng đất và tài s ản gắn liền
với di ện tích 831m 2, th ửa đ ất s ố 30, t ờ bản đ ồ số 07 theo Gi ấy ch ứng nh ận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s ản khác g ắn liền với đất số BH
625109, số vào sổ cấp GCN: 01403/Q do Ủy ban nhân dân qu ận D cấp ngày
19/12/2012 đứng tên ông Phạm Mạnh P và bà Phạm Thị C. Bên th ế chấp: Ông
Phạm Mạnh P, bà Phạm Thị C; Bên nhận thế chấp: Ngân hàng X; Bên vay vốn:
Anh Đỗ Đăng B1, chị Phạm Thị Vân V đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đ ất s ố 0003/2020/BĐ ngày 03/01/2020 t ại Văn Phòng Công ch ứng X3,
thành phố P; số công chứng 25/2020; Quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD.
Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 06/01/2020: Số
tiền vay: 20.000.000 đ ồng; mục đích vay tiêu dùng; lãi su ất vay theo quy đ ịnh
của Ngân hàng X. Ngày 20/5/2020, khách hàng có gi ấy yêu c ầu đề nghị nâng
hạn mức thẻ tín dụng lên 100.000.000 đồng và được chấp nhận cấp hạn mức thẻ
là 50.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, anh Đỗ Văn Bẩy và chị Phạm
Thị Vân V đã vi ph ạm nghĩa v ụ trả nợ được thỏa thuận theo các h ợp đồng tín
dụng đã ký. Tính đ ến ngày 16/02/2023, anh B1, chị V còn nợ Ngân hàng X số
tiền là: 1.824.760.394 đ ồng, trong đó: N ợ gốc: 1.714.950.295 đ ồng; n ợ lãi:
109.810.099 đồng. Ngân hàng X đã nhi ều l ần nh ắc anh B1 , chị V thanh tóan
nhưng tính đến nay vẫn chưa thanh tóan cho Ngân hàng X. Do anh B1, chị V đã
vi ph ạm cam kết, nghĩa v ụ trả nợ theo các tho ả thuận trong các h ợp đồng tín
dụng và các cam kết đã ký với Ngân hàng X. Do vậy, Ngân hàng X đề nghị Tòa
án giải quyết: Buộc anh Đỗ Đăng B1, chị Phạm Thị Vân V trả số tiền còn n ợ
cho Ngân hàng X tạm tính đ ến ngày 07/6/ 2023 là: 1.911.317.011 đ ồng. Dư n ợ
của H ợp đ ồng tín d ụng s ố 0003/2020/HĐTD-OCB-CN ngày 03/01/2020 là
1.833.207.976 đồng (bao gồm nợ gốc nợ lãi). Dư nợ thẻ tín dụng là 78.109.035
đồng (bao g ồm nợ gốc, nợ lãi thẻ tín dụng) và ti ền lãi, phí phát sinh theo h ợp
đồng tín dụng đã ký k ết cho đến khi anh B1, chị V hòan thành nghĩa v ụ trả nợ.
Trường hợp anh B1, chị V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đ ầy
đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng X được quyền yêu c ầu Cơ quan Thi
hành án có th ẩm quyền áp d ụng các bi ện pháp cư ỡng chế, kể cả việc kê biên,
phát mại, xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài s ản gắn liền với đất
thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 07, diện tích 831m 2 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s ản khác gắn liền với đất số BH
625109, số vào sổ cấp GCN: 01403/Q1 do Ủy ban nhân dân qu ận D cấp ngày
19/12/2012 đứng tên ông Phạm Mạnh P và bà Phạm Thị C để thu hồi tòan b ộ
khỏan nợ cho Ngân hàng X theo quy đ ịnh của pháp lu ật. Tòan b ộ số tiền thu
được từ việc phát mại tài sản sau khi trừ đi chi phí tố tụng, thi hành án theo quy
định của pháp lu ật mà không đ ủ thanh tóan h ết nghĩa v ụ trả nợ của anh B1 và
chị V thì Ngân hàng X được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền
tiếp tục kê biên, phát m ại xử lý các tài s ản khác c ủa anh B1 và chị V để thanh
tóan hết tòan bộ nợ tại Ngân hàng X.
Đối với tài sản là ngôi nhà đư ợc xây dựng cả trên thửa đất thế chấp đứng
tên ông A , bà C và th ửa đ ất không th ế chấp đ ứng tên anh D đề nghị Tòa án
tuyên phát mại thửa đất và tòan bộ ngôi nhà; số tiền thu được từ việc phát mại sẽ
trả cho anh D tiền diện tích đất có ngôi nhà.
Tại Bản tự khai ngày 12/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 (viết tắt là Ngân hàng X1) trình bày: Ngày
19/11/2021, Ngân hàng X1 có ký h ợp đ ồng c ấp tín d ụng s ố
SHP.CN.1245.191121 với chị Vũ Thị Thu G3. Theo đó, Ngân hàng X1 đồng ý
cho chị G3 vay số tiền hạn mức 950.000.000 đ ồng; mục đích b ổ sung vốn lưu
động kinh doanh mỹ phẩm, hóa phẩm, đồ dùng gia đình; thời hạn 24 tháng kể từ
ngày ký h ợp đồng. Tài s ản bảo đảm cho khỏan vay là th ửa đất số 30d1, tờ bản
đồ số 07; địa chỉ: Tổ dân phố số 06, phường X2, quận D, thành phố P. Hai bên
có ký h ợp đồng thế chấp tại Phòng công ch ứng số 03 và đăng ký th ế chấp tại
Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh quận D ngày 19/11/2021. Ngân hàng nhận
thế chấp tài s ản là đúng quy đ ịnh của pháp lu ật. Khi nh ận thế chấp quyền sử
dụng thửa đất này thì chị G3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hợp
pháp đối với thửa đất nên Ngân hàng X1 không có nghĩa v ụ phải biết về nguồn
gốc thửa đất trước khi chuy ển nhượng cho chị G3. Thửa đất đứng tên chị G3
đang được thế chấp hợp pháp tại Ngân hàng X1 để bảo đảm nghĩa vụ vay nợ của
chị G3. Vì vậy, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng
X1 là người thứ ba ngay tình.
Tại Văn bản số 37/TNMT ngày 24/02/2023 và quá trình gi ải quyết vụ án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân quận D, thành phố P
trình bày:
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận liên quan đến thửa đất số 30+31, tờ bản đồ số
07, địa chỉ: Tổ dân phố số 06, phường N, quận D, thành phố P được lưu tại Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đ ất đai quận D và việc thực hiện thủ tục đăng ký thế
chấp do Chi nhánh Văn ph òng đăng ký đất đai quận D thực hiện theo quy định,
đề nghị Tòa án liên h ệ đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ ất đại quận D để
được cung c ấp. Ngòai văn b ản nêu trên Phòng Tài nguyên và Môi trư ờng Ủy
ban nhân dân quận D gửi kèm theo bản phô tô “Báo cáo số 53/BC-UBND” ngày
24/02/2023 của Ủy ban nhân dân phư ờng X2, quận D và Sổ mục kê th ể hiện
thửa đ ất. T ại Công văn s ố 38/CNDK ngày 07/3/2023, s ố 42/CNDK ngày
10/3/2023 c ủa Văn phòng đăng ký đ ất đai Chi nhánh qu ận D cho bi ết: Chi
nhánh đã cung c ấp cho Tòa án H ồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do Ủy ban nhân dân quận D cấp ngày 18/6/2010 cho ông Phạm Mạnh P và vợ là
bà Phạm Thị C; Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị Phạm Thị Vân
V cho ông Phạm Văn Q2 và vợ là bà Bùi Thị Mai L1 thửa đất số 30b, tờ bản đồ
số 07, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 240288, s ố vào sổ cấp GCN
00704/Q1 do Ủy ban nhân dân quận D cấp ngày 20/12/2010. Các hồ sơ cấp giấy
chứng nhận khác liên quan đ ến thửa đất số 30+31, tờ bản đồ số 07, Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai quận D tiếp tục kiểm tra, rà sóat kho lưu trữ để cung
cấp cho Tòa án. Đ ến ngày 10/5/2023, Văn phòng đăng ký đ ất đai đã cung c ấp
đầy đủ các hồ sơ cấp giấy chứng nhận còn lại liên quan đến thửa đất cho Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án
nhân dân thành phố P quyết định:
1. Chấp nhận một ph ần yêu c ầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm
Văn H về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích đất nông nghiệp của cụ Trần
Thị C3:
1.1. Ông Phạm Văn H được nhận số tiền là 32.500.000 đ ồng. Bà Phạm
Thị C, anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B, chị Phạm Thị Vân V, anh Phạm
Tiến D có nghĩa v ụ hòan trả ông Phạm Văn H số tiền là 32.500.000 đ ồng. Bà
Phạm Thị C đại diện có nghĩa vụ hòan trả cho ông Phạm Văn H số tiền nêu trên.
1.2. Bà Phạm Thị C, anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B, chị Phạm Thị
Vân V, anh Phạm Tiến D được quyền sử dụng diện tích đất nông nghiệp 500m2
giao cho cụ Trần Thị C3.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm Văn H
đối với yêu cầu khởi kiện về việc: Chia di sản thừa kế do cụ Trần Thị C3 để lại
là diện tích đất ở đô thị 1.881m2 tại thửa số 30 + 31, tờ bản đồ số 7; địa chỉ: Tổ
dân phố số 06 (số nhà 168, 168A, 170 đư ờng X2), phường X2, quận D, thành
phố P. Không chấp nhận yêu c ầu của ông Phạm Văn H về việc đề nghị Tòa án
tuyên hủy Quyết định số 411/QĐ-UBND ngày 18/6/2010 c ủa Ủy ban nhân dân
quận D về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác g ắn liền với diện tích đ ất ở đô thị 1.881m2 tại thửa số 30 + 31, t ờ
bản đ ồ số 7; đ ịa ch ỉ: T ổ dân ph ố số 06 (s ố nhà 168, 168A, 170 đư ờng X2),
phường X2, quận D, thành phố P cho ông Phạm Mạnh P, vợ là bà Phạm Thị C
và hu ỷ Giấy ch ứng nh ận quy ền s ử dụng đ ất s ố BB 259068 -00485/Q1 ngày
18/6/2010 của Ủy ban nhân dân qu ận D cấp cho ông Phạm Mạnh P, vợ là bà
Phạm Thị C được quyền sử dụng diện tích đất ở tại đô thị 1.881m2.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H về việc
yêu cầu chia di sản thừa kế là căn nhà cấp 4 ba gian, mái lợp ngói.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan – Ngân hàng Thương mại cố phần X:
4.1. Anh Đỗ Đăng B1 và chị Phạm Thị Vân V có nghĩa vụ trả nợ cho
Ngân hàng Thương mại Cổ phần X tổng số tiền tính đến ngày 30/6/2023 theo
Hợp đồng tín dụng số: 0003/2020/HĐTD -OCB-CN ngày 03/01/2020 và Khế
ước nhận nợ số 0003/2020/KUNN -OCB-CN là: 1.878.060.559 đồng, trong đó:
Nợ gốc: 1.665.549.939 đồng; nợ lãi trong hạn: 192.868.202 đồng; nợ lãi quá
hạn: 12.137.890 đồng; nợ lãi phạt chậm trả: 7.504.529 đồng.
4.2. Anh Đỗ Đăng B1 và chị Phạm Thị Vân V tiếp tục phải trả tiền lãi
phát sinh từ ngày 01/7/2023 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại
Hợp đ ồng tín d ụng s ố: 0003/2020/HĐTD -OCB-CN ngày 03/01/2020 và Kh ế
ước nhận nợ số 0003/2020/KUNN-OCB-CN đã ký k ết với Ngân hàng Thương
mại Cổ phần X.
4.3. Anh Đỗ Đăng B1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương m ại cổ
phần X tổng số tiền tính đến ngày 30/6/2023 theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín
dụng kiêm h ợp đ ồng ngày 06/01/2020, ngày 20/5/2020 là: 84.966.042 đ ồng,
trong đó nợ gốc: 49.500.356 đồng, nợ lãi: 35.465.686 đồng.
4.4. Anh Đỗ Đăng B1 tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 01/7/2023
cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi su ất quy định tại giấy đề nghị phát hành thẻ
tín dụng kiêm h ợp đồng ngày 06/01/2020, ngày 20/5/2020 đã ký k ết với Ngân
hàng Thương mại Cổ phần X.
4.5. Trong trường hợp anh Đỗ Đăng B1 và chị Phạm Thị Vân V không trả
được số tiền nêu trên, Ngân hàng Thương m ại Cổ phần X có quyền đề nghị cơ
quan Thi hành án có th ẩm quyền xử lý tài s ản bảo đảm là quy ền sử dụng diện
tích đất ở đô thị 831m2 tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Tổ dân phố số
06, phường X2, quận D, thành phố P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số sêri BH 625109, s ố vào
sổ cấp GCN 01403/Q1 ngày 19/12/2012 do Ủy ban nhân dân quận D, thành phố
P cấp đứng tên ông Phạm Mạnh P, bà Phạm Thị C và tài sản trên thửa đất để thu
hồi n ợ theo H ợp đ ồng th ế chấp quy ền s ử dụng đ ất s ố 0003/2020/BĐ ngày
03/01/2020; s ố công ch ứng 25/2020; Quy ển s ố: 01TP/CC -SCC/HĐGD đư ợc
công chứng tại Văn phòng Công chứng X3.
4.6. Trong trường hợp phát m ại tài s ản bảo đảm là quy ền s ử dụng diện
tích đất ở đô thị 831m2 tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Tổ dân phố số
06, phường X2, quận D, thành ph ố P, bà Phạm Thị C, anh Phạm Hồng K, anh
Phạm Hùng B , chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm Tiến D có nghĩa v ụ tháo dỡ
phần diện tích nhà và các công trình xây dựng khác được xây dựng trên thửa đất
số 30, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Tổ dân phố số 06, phường X2, quận D, thành phố
P.
4.7. Khi x ử lý tài s ản thế chấp là quy ền sử dụng đất và tài sản trên di ện
tích 831m2 đất, số tiền thu đư ợc hòan tr ả cho anh Phạm Tiến D và chị Nguyễn
Thị Mai A1 số tiền là 576.331.000 đồng; số tiền còn lại để trả nợ cho Ngân hàng
Thương mại Cổ phần X. Nếu thừa thì sẽ trả lại cho bên thế chấp là bà Phạm Thị
C, anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B , chị Phạm Thị Vân V và anh Phạm
Tiến D. Nếu thiếu thì anh Đỗ Đăng B1 và chị Phạm Thị Vân V phải trả bằng các
nguồn tài sản khác. Bà Phạm Thị C, anh Phạm Hồng K, anh Phạm Hùng B, chị
Phạm Thị Vân V, anh Phạm Tiến D, chị Nguyễn Thị Mai A1 được quyền ưu
tiên mua thửa đất số 30, tờ bản đồ số 07; địa chỉ: Tổ dân phố số 06, phường X2,
quận D, thành phố P.
Ngòai ra, B ản án sơ th ẩm còn quy ết đ ịnh về án phí, chi phí t ố tụng và
quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 17/7/2023, ông Phạm Văn H có đơn kháng cáo tòan bộ bản án sơ
thẩm với lý do: Không có việc cụ C3 chia đất cho ông A và diện tích đ ất ông
đang ở không liên quan đến tài sản của cụ C3; việc Tòa cấp sơ thẩm áp dụng Án
lệ số 03/2016/AL để giải quyết vụ án, chấp nhận yêu c ầu của Ngân hàng X và
không chia cho ông hiện vật đất nông nghiệp là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là ông Phạm Văn H giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và l ợi ích h ợp pháp c ủa nguyên đơn có quan đi ểm
thể hiện:
Cả nguyên đơn và b ị đơn đều nhất trí nguồn gốc của thửa đất tranh chấp
là của cụ C3 để lại, phía b ị đơn cho r ằng cụ C3 đã cho ông A bà C thửa đất
nhưng đây hòan tòan là l ời khai từ phía bà C nên không có cơ s ở chấp nhận nội
dung này. Ngôi nhà năm 2011 do ông A xây sau khi cụ C3 chết là ngôi nhà khác
mà ông A xây trên diện tích đất được quân đội ở phường B2 cấp chứ không phải
xây trên diện tích đất tranh chấp này nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ
03 năm 2016 là không chính xác.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 1.181m² không phải di sản
thừa kế của cụ C3 là không chính xác, c ần xác đ ịnh lại để chia di s ản thừa kế
cho cả nguyên đơn và bị đơn.
Nguyên đơn đ ề nghị Tòa án chia cho ông b ằng hiện vật và vi ệc Tòa án
nhận định hiện nay không xác đ ịnh được diện tích đất nông nghiệp để chia thừa
kế mà quyết định ông H phải nhận di s ản bằng tiền là không có phù h ợp, ảnh
hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.
Đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung kháng cáo c ủa nguyên đơn, s ửa bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
buộc bà C phải chia 250m² đất nông nghiệp cho ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm
giải quyết vụ án: Sau khi phân tích tài liệu có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng
tại phiên tòa thì th ấy kháng cáo c ủa nguyên đơn là có căn c ứ do hiện nay th ửa
đất tranh ch ấp có th ể chia bằng hiện vật. Đề nghị Hội đồng xét x ử phúc thẩm
căn cứ khỏan 2 Đi ều 308 B ộ luật Tố tụng dân s ự năm 2015, ch ấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn và s ửa Bản án dân s ự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 03
tháng 7 năm 2023 c ủa Tòa án nhân dân thành ph ố P theo hướng phân tích nêu
trên để đảm bảo quyền, lợi ích của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn khá ng cáo c ủa ông Phạm Văn H trong thời hạn pháp lu ật quy
định và đúng hình th ức, nội dung theo quy đ ịnh tại các Điều 272, 273, 276 c ủa
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Quan h ệ tranh chấp là tranh ch ấp thừa kế tài sản; yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy đ ịnh tại
khỏan 3, khỏan 5 Điều 26, khỏan 4 Điều 34, điểm a khỏan 1 Điều 37 Bộ luật Tố
tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân thành ph ố P
thụ lý, xét xử sơ thẩm vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Xét đơn kháng cáo của ông Phạm Văn H, HĐXX thấy rằng:
[2.1] V ề quan h ệ huyết th ống: Các đương s ự đều th ống nh ất c ụ Phạm
Duy L3 (chết năm 1959) và c ụ Trần Thị C3 (chết năm 2010); hai c ụ có 02 con
chung là ông Phạm Mạnh P và ông Phạm Văn H . Các c ụ chết không đ ể lại di
chúc. Nguyên đơn ông H cho rằng cụ C3 có tên g ọi khác là Trần Thị H4. Tuy
nhiên, bị đơn không th ừa nhận; Ủy ban nhân dân phư ờng N xác định chưa có
căn cứ nào xác đ ịnh cụ Trần Thị C3 còn có tên g ọi khác là Trần Thị H4 hay
Trần V Hà. Ngòai l ời khai, ông H không cung c ấp được chứng cứ thể hiện cụ
C3 còn có tên g ọi khác là Trần Thị H4. Do đó, Tòa án c ấp sơ th ẩm xác đ ịnh
không có căn cứ cụ Trần Thị C3 còn có tên gọi khác là cụ Trần Thị H4 là có cơ
sở.
[2.2] Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng thửa đất số 30, 31:
[2.2.1] Theo kết quả xác minh, Ủy ban nhân dân phường X2, quận D cung
cấp: Tại Sổ mục kê, bản đồ giải thửa năm 1986, trang 2, dòng 5 thể hiện thửa đất
số 30 tên chủ sử dụng Trần V Hà, di ện tích 1.120m2, T.cư (thổ cư). Dòng 6 th ể
hiện thửa đất số 31, tên chủ sử dụng Hà, diện tích 400m2, là đất ao. Tại Sổ mục
kê năm 1993 thể hiện thửa số 30 + 31, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.877m2. Lý do
vì sao thửa đất số 30 + 31, t ờ bản đồ số 07 đứng tên Trần V Hà hay Hà thì Ủy
ban nhân dân phường không nắm được. Ngày 18/6/2010, Ủy ban nhân dân quận
D, thành ph ố P có Quyết định số 411/QĐ-UBND về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài s ản khác g ắn liền với đất số sêri BB 259068, s ố vào sổ cấp GCN
00485/Q1 đứng tên người sử dụng đất ông Phạm Mạnh P và vợ là bà Phạm Thị
C được quyền sử dụng diện tích đất ở đô thị 1.881m2 tại thửa đất số 30 + 31, tờ
bản đồ số 07.
[2.2.2] Sau khi ông A, bà C được cấp giấy chứng nhận, đã tách cho các
con và chuy ển như ợng m ột ph ần di ện tích đ ất, trong đó t ặng cho anh Phạm
Hồng K, anh Phạm Hùng B, anh Phạm Tiến D, mỗi người diện tích đất 200m2;
tặng cho ch ị Phạm Th ị Vân V diện tích 125m 2 đất; chuy ển như ợng cho ông
Nguyễn Tu ấn N1 , bà Bùi Th ị Kim M1 diện tích 225m 2 đất (đ ất tr ống). Ngày
20/12/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành phố P đã cấp các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số sêri
BB 240289, s ố vào s ổ cấp GCN 00705/Q1 đ ứng tên ngư ời s ử dụng đ ất anh
Phạm Hồng K được quyền sử dụng diện tích đất ở đô thị 200m2 tại thửa đất số
30c, tờ bản đồ số 07; Số sêri BB 240290, s ố vào sổ cấp GCN 00706/Q1 đ ứng
tên người sử dụng đất anh Phạm Hùng B được quyền sử dụng diện tích đất ở đô
thị 200m2 tại thửa đất số 30d, tờ bản đồ số 07; Số sêri BB 240291, số vào sổ cấp
GCN 00707/Q1 đ ứng tên ngư ời sử dụng đất anh Phạm Tiến D được quyền sử
dụng diện tích đất ở đô thị 200m2 tại thửa đất số 30e, tờ bản đồ số 07; Số sêri BB
240288, số vào số cấp GCN 00704/Q1 đứng tên người sử dụng đất chị Phạm Thị
Vân V được quyền sử dụng diện tích đất ở đô thị 125m2 tại thửa đất số 30b, tờ
bản đồ số 07; Số sêri BB 240597, số vào sổ cấp GCN 00703/Q1 đứng tên người
sử dụng đất ông Nguyễn Tu ấn N1, vợ là bà Bùi Thị Kim M1 được quyền s ử
dụng diện tích đất ở đô thị 225m2, thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 07; Số sêri BB
240548, số vào sổ cấp GCN 00708/Q1 đ ứng tên ngư ời sử dụng đất ông Phạm
Mạnh P, bà Phạm Thị C được quyền sử dụng diện tích đ ất ở đô thị 931m2 tại
thửa đất số 30, tờ bản đồ số 07 (là diện tích đất còn lại sau khi đã t ặng cho các
con và chuyển nhượng cho ông N1, bà M1).
[2.2.3] Ngày 26/4/2012, ông A , bà C tiếp t ục chuy ển như ợng cho anh
Trịnh Quang Q1 và v ợ là ch ị Phạm Th ị E2, di ện tích 100m 2 đất. Ngày
19/12/2012, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành ph ố P đã c ấp Gi ấy ch ứng nh ận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài s ản khác gắn liền với đất số sêri
BH 625110, s ố vào s ổ cấp GCN 01402/Q1 đ ứng tên ngư ời s ử dụng đ ất anh
Trịnh Quang Q1 , chị Phạm Thị E2 được quyền sử dụng diện tích đ ất ở đô thị
100m2 tại thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 07. Cùng ngày 19/12/2012, Ủy ban nhân
dân quận D, thành phố P đã cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số sêri BH 625109, s ố vào sổ cấp
GCN 01403/Q1 đứng tên người sử dụng đất ông Phạm Mạnh P, bà Phạm Thị C
được quyền sử dụng diện tích đất ở đô thị 831m2 tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số
07.
[2.3] Về diện tích đất nông nghiệp đứng tên người sử dụng Trần Thị C3:
Tại Sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện đang
lưu giữ tại địa phương thì không có tên Trần Thị C3. Tuy nhiên, tại Sổ theo dõi
dồn điền đổi thửa được lập năm 2005 th ể hiện: Tại trang 20 ghi ch ủ sử dụng
Trần Thị C3 có 03 th ửa ruộng cấy gồm: Thửa số 142, xứ Z3 diện tích 350m 2,
hạng đất 3; thửa đất 85, xứ Z3, diện tích 414m2, hạng đất 2; thửa số 428, xứ Z4,
diện tích 700m2, hạng đất 4. Các th ửa đất nông nghi ệp này hiện không th ể xác
định được vị trí cụ thể từng thửa vì không còn m ốc giới hiện trạng do c ỏ mọc,
chỉ xác định được trên sổ sách. Việc phân hạng đất nêu trên là đ ể đánh giá chất
lượng đất, thể hiện sản lượng canh tác trên từng hạng đất.
[2.4] Kết quả xem xét th ẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài s ản thửa
đất số 30 + 31, tờ bản đồ số 07 theo giấy chứng nhận được cấp là 1.881m2 (Diện
tích đất hiện trạng: 2.080,3m 2). Hiện thửa đất số 30 + 31, t ờ bản đồ số 07 đã
được chia tách thành 08 th ửa đ ất; t ổng giá tr ị thửa đ ất (1.881m 2) là
5.300.400.000 đồng. Cụ thể:
[2.4.1] Hiện trạng hai thửa đất số 30 đứng tên ông A, bà C và thửa đất 30e
cùng tờ bản đồ số 07 đứng tên anh D không có ranh gi ới cụ thể. Diện tích theo
giấy chứng nhận: Thửa số 30, tờ bản đồ số 07 là 831m2; thửa số 30e, tờ bản đồ
số 07 là 200m2. Diện tích đất hiện trạng của cả hai thửa đất là 1.093m2 (trong đó
diện tích hành lang giao thông là 47,3m 2). Trên hai th ửa đất này có nhà ở riêng
lẻ 02 tầng, tường gạch, mái b ằng diện tích xây d ựng là 121,6m 2; diện tích nhà
nằm trên th ửa đất số 30 đứng tên ông A, bà C là 52m2; diện tích nhà n ằm trên
thửa đất số 30e đứng tên anh D là 73,2m2. Bếp, tường gạch, mái tôn, di ện tích
xây dựng là 52,7m 2; diện tích b ếp nằm trên thửa đất số 30 là 22,4m 2; diện tích
bếp n ằm trên th ửa đất s ố 30e là 30,3m 2; 01 b ể nước ngầm 10m 3; 01 b ể nước
ngầm 15m 3; chu ồng gà, tư ờng bao. T ổng giá tr ị tài s ản trên đ ất: 922.127.882
đồng.
[2.4.2] Thửa đất số 30d, tờ bản đồ số 07 đứng tên anh B. Diện tích đ ất
theo giấy chứng nhận: 100m2. Diện tích đ ất hiện trạng 115,2m2 (trong đó di ện
tích hành lang giao thông là 14,8m2), không có công trình trên đất.
[2.4.3] Thửa đất số 30d1, tờ bản đồ số 07 đứng tên chị G3. Diện tích đất
theo giấy chứng nhận: 100m2. Diện tích đất hiện trạng 119m2 (trong đó diện tích
hành lang giao thông là 19m 2). Công trình trên đất: Tường xây gạch ba banh, trị
giá: 13.002.212 đồng.
[2.4.4] Thửa đất số 30c, tờ bản đồ số 07 đứng tên anh Kiên. Di ện tích đất
theo giấy chứng nhận: 200m2. Diện tích đ ất hiện trạng 238,5m2 (trong đó di ện
tích hành lang giao thông là 37,7m 2); trên đất không có công trình do anh Kiên
xây dựng; có một phần diện tích nhà ở cũ của ông A, bà C (hiện không còn giá
trị sử dụng).
[2.4.5] Thửa đất số 30b, tờ bản đồ số 07 đứng tên ông Q2, bà L1. Diện
tích đất theo gi ấy chứng nhận: 125m2. Diện tích đ ất hiện trạng 149,2m2 (trong
đó diện tích hành lang giao thông là 22,8m2). Công trình trên đất: Nhà ở riêng lẻ,
diện tích xây d ựng 62,3m 2, ba t ầng, tường gạch, mái b ằng. Nhà bếp, diện tích
xây dựng 23,4m2, mái tôn. Tổng giá trị tài sản trên đất: 794.690.000 đồng.
[2.4.6] Thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 07 đứng tên ông N1, bà M1. Diện
tích đất theo giấy chứng nhận: 225m2. Diện tích đất hiện trạng 265,1m2 (trong đó
diện tích h ành lang giao thông là 43,7m 2); trên đ ất không có công trình xây
dựng.
[2.4.7] Thửa đất số 30a, tờ bản đồ số 07 đứng tên anh Q1, chị E2. Diện
tích đất theo gi ấy chứng nhận: 100m2. Diện tích đ ất hiện trạng 100m2; trên đ ất
có tường xây, trị giá: 4.840.000 đồng.
[2.5] Kết quả định giá các thửa đất nông nghiệp: Thửa số 142, xứ Z3 diện
tích 350m2, hạng đất 3; thửa đất 85, xứ Z3, diện tích 414m2, hạng đất 2; thửa sổ
428, xứ Z4, diện tích 700m2, hạng đất 4. Tổng giá trị quyền sử dụng của 03 thửa
đất là: 189.820.000 đồng (130.000 đồng/m2).
[2.6] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.6.1] Các đương sự đều thống nhất thửa đất số 30 + 31, tờ bản đồ số 07
là của cụ C3 được cấp năm 1965. Bị đơn ông A xác định cụ C3 đã phân chia cho
ông A thửa đất số 30 + 31, tờ bản đồ số 07 và phân chia cho ông H thửa đất hiện
vợ chồng ông H đang sinh s ống từ thời điểm ông H lấy vợ năm 1982. Cụ C3
sinh sống cùng vợ chồng ông A, bà C cho đến khi cụ C3 chết năm 2010; còn vợ
chồng ông H sinh sống tại thửa đất riêng t ừ khi ông H lấy vợ năm 1982. L ời
trình bày của bị đơn về việc đã được cụ C3 cho thửa đất còn phù hợp với thông
tin người đứng tên thửa đất số 30 + 31 t ại các sổ mục kê năm 1986, 1993. Quá
trình sử dụng đất, ông A, bà C đã xây nhà năm 2011; đã tách chia cho các con;
chuyển nhượng cho ngư ời khác t ừ năm 2010, ông H sinh sống gần đó nên bi ết
rõ (kể cả sau thời điểm cụ C3 đã chết) nhưng ông H không có ý ki ến phản đối.
Đến tháng 12/2019, ông H mới nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do
ông A đã khởi kiện đối với ông H tranh chấp thửa đất mua thanh lý là di ện tích
đất trường cấp I của Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N) hiện ông H đang
quản lý s ử dụng tại vụ án khác. T ại Sổ mục kê năm 1986 và S ổ mục kê năm
1993 đ ều th ể hiện ch ủ sử dụng th ửa đ ất 30 + 31 có tên là “Hà”; đ ến ngày
18/6/2010, Ủy ban nhân dân qu ận D, thành ph ố P đã ban hành Quy ết định số
411/QĐ-UBND ngày 18/6/2010 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông A, bà C.
Lời trình bày c ủa ông A, bà C về việc cụ C3 đã phân chia cho ông A thửa đất
phù hợp với thực tế sử dụng các thửa đất của nguyên đơn (nguyên đơn s ử dụng
thửa đất số 20, trước là tờ bản đồ số 5 Tĩnh Hải, xã X2), bị đơn sử dụng thửa đất
30 + 31, (trước là tờ bản đồ số 5 Tĩnh Hải, xã N) riêng biệt từ năm 1982.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H
về yêu cầu khởi kiện chia di s ản thừa kế đối với thửa đất số 30 + 31, t ờ bản đồ
số 07 đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông A, bà C lần đầu vào năm 2010
diện tích 1.881m2 đất và yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 411/QĐ-UBND ngày
18/6/2010 của Ủy ban nhân dân qu ận D về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với diện tích đất ở đô thị
1.881m2 tại thửa số 30 + 31, t ờ bản đồ số 7 cho ông Phạm Mạnh P, vợ là bà
Phạm Th ị C và hu ỷ Giấy ch ứng nh ận quy ền s ử dụng đ ất s ố BB 259068 –
00485/Q1 ngày 18/6/2010 c ủa Ủy ban nhân dân qu ận D cấp cho ông Phạm
Mạnh P, vợ là bà Phạm Thị C là có căn cứ.
[2.6.2] Về yêu cầu chia di s ản thừa kế đối với diện tích đ ất nông nghi ệp
đứng tên cụ C3: Ủy ban nhân dân phư ờng X2 xác định có 03 th ửa đất đứng tên
cụ C3, bao g ồm thửa số 142, xứ Z3 diện tích 350m 2; thửa đất 85, xứ Z3, diện
tích 414m2; thửa số 428, xứ Z4, diện tích 700m2. Nguyên đơn và bà C cùng các
con đ ều th ống nh ất cụ C3 được giao 500m 2 đất nông nghi ệp, nhưng UBND
phường X2 và các đương sự đều không xác định được vị trí hiện trạng các thửa
đất nên cần phân chia di s ản thừa kế là 500m2 đất nông nghiệp bằng giá trị cho
ông H . Theo k ết lu ận c ủa H ội đ ồng đ ịnh giá là: 130.000 đ ồng/m2, c ụ thể:
130.000 đồng x 250m 2 = 65.000.000 đ ồng, được chia cho 02 su ất thừa kế theo
pháp lu ật là ông A và ông H mỗi ngư ời 1/2, c ụ thể: 65.000.000 đ ồng : 2 =
32.500.000 đồng. Bà C đồng ý đại diện thực hiện nghĩa v ụ thanh tóan s ố tiền
32.500.000 đồng cho ông H.
Do đó, Tòa án c ấp sơ th ẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích 500m2 đất nông nghiệp
của cụ C3 để lại là có căn cứ.
[2.7] T ừ những nh ận đ ịnh nêu trên, HĐXX phúc th ẩm th ấy r ằng: Diện
tích đ ất và quy ền s ử dụng đ ất đó là c ủa ông A , bà C nên ông, bà có quy ền
chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và thực tế ông A, bà C đã tặng cho
các con; sau đó các con ông A bà C đã tiến hành các th ủ tục theo quy đ ịnh của
pháp luật và đã đư ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án c ấp sơ
thẩm đã c ăn cứ quy định tại các Đi ều 116, 117, 119, 463, 466, 468, 470, 317,
318, 319, 320, 323, 299, 429 và các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651
của Bộ luật Dân s ự; các Điều 100, 101 Lu ật Đất đai năm 2013 ; Đồng thời áp
dụng Án l ệ số 03/2016 (đư ợc H ội đ ồng th ẩm phán Tòa án nhân dân t ối cao
thông qua ngày 06/4/2016 và đư ợc công b ố theo Quy ết đ ịnh s ố 220/QĐ-CA
ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân t ối cao) để quyết định là có căn
cứ. Do vậy không có cơ sở chấp nhận yêu c ầu kháng cáo c ủa nguyên đơn ông
Phạm Văn H.
[3] Về án phí: Kháng cáo không đư ợc chấp nhận nên ông Phạm Văn H
phải chịu án phí dân s ự phúc thẩm theo quy đ ịnh. Tuy nhiên, ông Phạm Văn H
là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông H được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khỏan 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm đ khỏan 1
Điều 12 Nghị quyết s ố 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đ ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Bác kháng cáo của ông Phạm Văn H ; giữ nguyên quyết định của Bản
án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Tòa án
nhân dân thành phố P.
2. Về án phí: Ông Phạm Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
- Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND thành phố P;
- VKSND thành phố P;
- Cục THADS thành phố P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Nam
CÁC THẨM PHÁN
Phạm Đình Khánh Hòang Thị Bích Hải
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Nam
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
