Số: 03 /2024/HNGĐ-GĐT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 03/2016/AL |
| Ngày thông qua | 1997-09-28 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Hôn nhân và Gia đình |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quyết định giám đốc thẩm
Số: 03 /2024/HNGĐ-GĐT
Ngày: 09-5-2024
V/v: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm gồm có: ông Phạm Tấn Hòang và
ông Đặng Kim Nhân
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành An – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
ông Trần Viết Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
mở phiên tòa giám đ ốc thẩm xét x ử vụ án “Tranh chấp chia tài s ản sau ly hôn ”
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Đào Thị Thanh L, sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: ông Lê Văn S, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Công ty cổ phần D.
Địa chỉ: số H đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Công ty cổ phần S5.
Địa chỉ: số B, phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.
3.3. Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1985, Ch ủ hộ kinh doanh Cơ s ở sản
xuất dây cáp điện Nguyễn L1.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3.4. Chị Lê Thị Yến N1, sinh năm 2000.
Nơi cư trú: Khối C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Phòng s ố 419, số nhà B, đư ờng E, thành ph ố T, bang O,
Canada.
3.5. Anh Lê Văn C, sinh năm 1998.
Nơi cư trú: Khối C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Phòng số A, số nhà H, đường B – M, thành phố M, bang Q,
Canada.
3.6. Công ty Cổ phần ngôi nhà chung LACASA.
Địa chỉ: số F Ấp B, xã X, huyện H, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L đăng ký kết hôn ngày 28/9/1997 tại
Ủy ban nhân dân th ị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk và đã ly hôn theo Quy ết định
công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 245/2020/QĐST-
HNGĐ ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân huy ện E, tỉnh Đắk Lắk; về phần tài
sản các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do các bên không tự giải quyết được việc phân chia tài sản chung vợ chồng
sau ly hôn nên bà L khởi kiện (ông S cũng có yêu cầu phản tố) yêu cầu Tòa án giải
quyết chia tài sản chung do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm:
1. Thửa đất số 22 (số mới 204), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích
27,5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 32.1m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 38m 2), được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số O 366543 ngày 10/5/2002 cho hộ Tôn Nữ Thị L2, thay đổi cơ sở pháp
lý ngày 25/6/2012 cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Hiện tại là cửa hàng
kinh doanh điện, xây dựng hết đất là nhà xây 2 tầng, mái đổ bê tông.
2. Thửa đất số 23 (số mới 254), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích
32.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 37.6m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 35.5m 2) đã được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AP 481891, cấp ngày 02/12/2009 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L, trên đất là khu nhà bán hàng.
3. Thửa đất số 24 (số mới 180), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích
57.3m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 62.2m2) và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 40.6m 2) được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số R 287627 ngày 10/5/2002 cho h ộ ông Lê Văn S, trên đất là khu nhà
bán hàng.
4. Thửa đất số 27 (số mới 255), tờ bản đồ số 9 (số mới 100), diện tích: 78m2
đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 76.6m2), được UBND huyện E cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AĐ 262870 ngày 18/8/2006 cho hộ ông Lê Văn S và bà
Đào Thị Thanh L.
5. Thửa đất số 26 (số mới 205), tờ bản đồ số 09 (số mới 100), diện tích 78m2
đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 79.7m2) được UBND huyện E cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270188, cấp ngày 03/5/2006 cho hộ ông Lê Văn S
và bà Đào Thị Thanh L.
Tài sản trên các thửa đất số 26 và 27 là nhà xây c ấp 3 gồm 4 tầng diện tích
xây dựng 745m2.
6. Thửa đất số 46 (số mới 219), tờ bản đồ số 09 (số mới 100), diện tích 105m2
(diện tích đo đạc mới là 108.7m2, gồm 75m2 đất ở đô thị và 33.7m2 đất trồng cây
hàng năm khác) được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AA 358954 ngày 05/11/2004 cho h ộ ông Nguyễn Bá Đ , thay đ ổi cơ s ở pháp lý
ngày 26/02/2014 sang tên ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất
có nhà xây cấp 4 diện tích 106m2.
7. Thửa đất số 39 (số mới 258), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích
91,6m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 92.9m2) được UBND huyện E cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270191, ngày 03/05/2006 cho hộ ông Lê Văn
S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất là khu nhà trọ.
8. Thửa đất số 38 (số mới 238), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích
119.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 111.1m2) được UBND huyện E cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270190, ngày 03/5/2006 cho hộ ông Lê
Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất là khu nhà trọ.
Tất cả 8 thửa đất trên đều tọa lạc tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh
Đắk Lắk.
9. Thửa đất số 31 (số mới 01), tờ bản đồ số 05 (số mới 100), diện tích 223m2
(diện tích đo đ ạc mới là 233.9m 2, trong đó 150m 2 đất ở và 83.9m2 đất trồng cây
hàng năm khác và 22.8m 2 đất nằm trong hàng lang giao thông), t ại tổ dân phố C,
thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AO 001952 ngày 11/3/2009 cho ông Lê Văn S. Tài sản trên đất là
nhà kho.
10. Thửa đất số 50 (số mới 01), tờ bản đồ số 23 (số mới 40), diện tích 2.810m2
(diện tích đo đạc mới là 2.595,7m2 đất trồng cây lâu năm), tại tổ dân phố D, thị trấn
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BD 798269 ngày 16/05/2012 cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh
L.
11. Thửa đất số 48a, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.150m2 (trong đó có 200m2
đất ở và 950m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk, được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 517858
ngày 01/6/2005 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L.
12. Thửa đất số 49a, tờ bản đồ số 13, diện tích 330m2 (trong đó có 150m2 đất
ở tại nông thôn và 180m2 đất trồng cây hàng năm), tại Thôn A, xã C huyện E, tỉnh
Đắk Lắk, được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ
532481 ngày 23/12/2006 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L.
13. Thửa đất số 79, tờ bản đồ số 07 diện tích 220m2 (trong đó có 150m2 đất
ở và 70m2 đất trồng cây lâu năm khác), t ại thôn E, xã E, huy ện E, tỉnh Đắk Lắk,
được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận QSD đất số AP 513663 ngày 24/7/2009
mang tên ông Bùi Thanh S1, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 29/12/2016 sang cho ông
Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất gồm nhà ở 1 và nhà ở nhà ở 2,
nhà vệ sinh, mái hiên, mái che và sân.
14. Tài s ản chung là hàng hóa đang kinh doanh t ại Cửa hàng V : Các bên
đương sự đã kiểm đếm, kiểm kê và thống nhất về chủng lọai, số lượng hàng hóa,
khách hàng nợ ghi ngày 05/02/2021 và hai bên thỏa thuận giao cho ông S tiếp tục
bảo quản, buôn bán, có giá trị theo kết quả thẩm định giá là 17.385.500.000 đồng
và tiền những người khách hàng nợ là 2.695.236.000 đồng.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Lê Văn S, thì bà Lê c ý kiến như sau:
- Về phần vốn góp tại Công ty cổ phần N2: vào năm 2016, bà L và ông S có
góp vốn 500.000.000 đồng. Sau đó, bà L và ông S tiếp tục góp vốn vào Công ty để
mua nhà và đất trị giá 250.000.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản góp vốn là
750.000.000 đồng nên việc ông S yêu cầu chia tổng giá trị góp vốn là 888.800.000
đồng là không đúng. Hơn n ữa, giá trị tài sản góp vốn 750.000.000 đồng này, quá
trình kinh doanh đã lấy hàng hóa đã cấn trừ vào tiền vốn gốc đã góp, đồng thời rút
hết vốn ra khỏi Công ty N2 nên không còn phần vốn góp nào tại Công ty nữa.
- Đối với khỏan tiền 900.000.000 đồng mở sổ tiết kiệm: ông S, bà Lê thống
n mở tài kho ản ti ết ki ệm m ỗi ngư ời đ ứng tên m ột s ổ tiết ki ệm v ới s ố tiền là
900.000.000 đồng, mục đích để làm thủ tục xin cấp Visa để thăm nom, chu cấp khi
cần thiết cho hai con chung là Lê Văn C và Lê Thị Yến N1 đang du học, sinh sống
tại Canada. Sau khi ly hôn, bà L đã lấy một phần của số tiền 900.000.000 đồng đã
rút ra để chu cấp, gửi cho hai con chung ăn học tổng số tiền là 633.000.000 đồng;
ông S đã chu cấp cho các con chung số tiền là 63.270.000 đồng (có hóa đơn, chứng
từ và lời trình bày của các con kèm theo). Nay, đề nghị ông S phải trả cho bà L 1/2
khỏan tiền bà đã chu c ấp cho các con, còn s ố tiền 900.000.000 đồng của ông đã
dùng vào việc mua hàng hóa đ ể nhập vào khối tài sản chung của hai vợ chồng là
sau thời điểm ly hôn nên bà L không đồng ý yêu cầu của ông S.
Bà L yêu cầu Tòa án gi ải quyết phân chia tài s ản chung của vợ chồng mỗi
người được hưởng 1/2.
Bị đơn ông Lê Văn S thống nhất về tài sản chung vợ chồng là những thửa
đất và hàng hóa như l ời trình bày c ủa nguyên đơn. Ngòai ra, ông có đơn ph ản tố
yêu cầu chia phần vốn góp của vợ chồng tại Công ty cổ phần N2 trị giá 880.000.000
đồng; số tiền 900.000.000 đồng tiền gửi tiết kiệm bà L đang quản lý. Về công sức
đóng góp trong khối tài sản chung, ông S cho rằng chủ yếu là công sức đóng góp
của Ông nên đề nghị phân chia khối tài sản chung theo tỷ lệ ông S 7 (bảy) phần và
bà Lê 3 (ba) phần.
Cả bà L và ông S đều thống nhất bên nào nhận Cửa hàng V sẽ nhận số hàng
và trách nhiệm đòi nợ số tiền hàng để tiếp tục kinh doanh.
Đối với khỏan tiền 150.000.000 đồng bà H (là mẹ kế của bà L) đã trả cho bà
L, các đương sự thống nhất bà Lê s hòan trả cho ông S ½; về yêu cầu độc lập: những
người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã rút các yêu cầu độc lập.
Tại B ản án hôn nhân gia đình sơ th ẩm s ố 35/2023/HNGĐ-ST ngày
29/8/2023, Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khỏan 7 Điều 28, điểm a khỏan 1 Điều 35, điểm a khỏan 1 Điều
39, Điều 147, Điều 217, điểm b, khỏan 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 208, Điều 210, Điều 219 Bộ luật dân sự 2015.
Điều 29, Điều 33, Điều 46, Điều 59, Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014; Ngh ị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 c ủa ủy ban thư ờng v ụ
Quốc hội.
Tuyên xử: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào
Thị Thanh L; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Lê Văn S.
I. Chia cho bà Đào Thị Thanh L được quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng
đất bao gồm các tàỉ sản sau:
1. Thửa đất số 24 (số mới 180), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
57.3m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 62.2m2) và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 40.6m2, tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 287627, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp
ngày 10/05/2002 cho hộ ông Lê Văn S. Tài sản trên đất là một phần khu nhà bán
hàng có móng đổ bê tông, trụ sắt, tường xây gạch, nền lát gạch Ceramic, trần thạch
cao, xà gồ sắt, mái lợp tôn, hệ thống đi dạng cửa cuốn bằng sắt.
2. Thửa đất số 46 (số mới 219), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
105m2, trong đó 75m 2 đất ở đô th ị và 30m 2 đất màu (di ện tích đo đ ạc m ới là
108.7m2, trong đó có 75m 2 đất ở đô thị và 33.7m2 đất trồng cây hàng năm khác),
tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA 358954, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp ngày 05/11/2004 cho hộ
ông Nguyễn Bá Đ, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 26/02/2014 mang tên ông Lê Văn
S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất là nhà xây cấp 4 diện tích 106m2, móng
xây gạch, nền láng xi măng, tường xây gạch, xà gồ sắt, mái lợp tôn, cửa đi không
có cánh.
3. Thửa đất số 39 (số mới 258), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích:
91,6m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 92.9m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270191, do
Ủy ban nhân dân huyện E cấp ngày 03/5/2006 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị
Thanh L. Tài sản trên đất là dãy nhà trọ kết cấu Móng xây đá hộc, nền láng xi măng,
T xây gạch quyét sơn, xà gồ gỗ, mái lợp tôn.
4. Thửa đất số 38 (số mới 238), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích:
119.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 111.1m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270190, do
Ủy ban nhân dân huy ện E cấp ngày 03/05/2006 cho h ộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L. Tài sản trên đất là dãy nhà trọ kết cấu móng xây đá hộc, nền láng xi
măng, tường xây gạch quét sơn, xà gồ gỗ, mái lợp tôn.
5. Thửa đất số 31 (số mới 01), tờ bản đồ số 05 (số mới 100), diện tích: 223m2
(trong đó có 150m2 đất ở và 73m2 đất trồng cây hàng năm); diện tích đo đạc mới là
233.9m2 (trong đó 150m2 đất ở và 83.9m2 đất trồng cây hàng năm khác và 22.8m2
đất nằm trong hàng lang giao thông), tại khối C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 001952, do Ủy ban nhân dân huyện
E cấp ngày 11/3/2009 cho ông Lê Văn S . Tài s ản trên đ ất là nhà kho di ện tích
252m2, kết cấu móng xây đá hộc, nền láng xi măng, tường xây gạch, quét sơn, xà
gồ bằng sắt, mái lợp tôn. Hệ thống cửa sắt dạng kéo.
6. Thửa đất số 50 (số mới 01), tờ bản đồ số 23 (số mới 40), diện tích 2.810m2
(diện tích đo đạc mới là 2.595,7m2 đất trồng cây lâu năm) tại tổ dân phố D, thị trấn
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 798269
do Ủy ban nhân dân huyện E cấp ngày 16/5/2012 cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị
Thanh L.
7. Thửa đất số 48a, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.150m2, (trong đó có 200m 2
đất ở và 950m2 đất trồng cây hàng năm khác), tại Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 517858, do Ủy ban nhân dân
huyện E cấp ngày 01/06/2005.
8. Thửa đất số 49a, tờ bản đồ số 13, diện tích 330m2 (trong đó có 150m2 đất
ở tại nông thôn và 180m2 đất trồng cây hàng năm), tại thôn A, xã C, huyện E, tỉnh
Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 532481, do Ủy ban nhân
dân huyện E cấp ngày 23/12/2006 mang tên hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh
L.
9. Thửa đất số 79, tờ bản đồ số 07, diện tích 220m2 (trong đó có 150m2 đất
ở và 70m2 đất trồng cây lâu năm khác), t ại thôn E, xã E, huy ện E, tỉnh Đắk Lắk,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 513663, do Ủy ban nhân dân huyện
E cấp ngày 24/7/2009, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 29/12/2016 chuyển nhượng cho
ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất gồm nhà ở 1 và nhà ở 2, nhà
vệ sinh, mái hiên, mái che và sân bê tông.
II. Chia ông Lê Văn S được được quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất
bao gồm các tài sản sau:
1. Thửa đất số: 22 (s ố mới 204), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
27,5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 32.1 m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 38m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O366543, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp
ngày 10/05/2002 cho hộ Tôn Nữ Thị L2, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 25/06/2012
chuyển nhượng cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất gồm:
một nhà xây là nhà xây 2 t ầng, móng và tr ụ đổ bê tông, tư ờng xây g ạch, nền lát
gạch C1, trần thạch cao.
2. Thửa đất số 23 (số mới 254), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), diện tích:
32.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 37.6m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 35.5m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481891, do Ủy ban nhân dân huy ện E
cấp ngày 02/12/2009 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất
là khu nhà bán hàng.
3. Thửa đất số 27 (số mới 255), tờ bản đồ số 09 (số mới 100), diện tích: 78m2
đất ở đô thị (diện tích do đạc mới là 76.6m2) tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 262870, do Ủy ban
nhân dân huyện E cấp ngày 18/8/2006 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh
L.
4. Thửa đất số 26 (số mới 205), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích :
78m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 79.7m 2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270188, do
Ủy ban nhân dân huy ện E cấp ngày 03/05/2006 cho h ộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L.
5. Tòan bộ hàng hóa theo biên bản kiểm đếm, kiểm kê ngày 05/02/2021 đến
07/02/2021 có giá trị là 17.385.500.000 đồng.
6. Được thu hồi tòan bộ số tiền khách hàng nợ theo biên bản kiểm đếm, kiểm
kê ngày 05/02/2021 đến 07/02/2021 là 2.695.236.000 đồng.
Tổng tòan bộ tài sản ông S được chia có giá trị là: 33.741.892.900 đồng.
Buộc ông Lê Văn S phải có trách nhiệm trả cho bà Đào Thị Thanh L số tiền
chênh lệch chia tài sản chung là 7.429.041.050 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Lê Văn S về
yêu cầu bà Đào Thị Thanh L phân chia tài sản đã góp vốn vào công ty cổ phần N2
với số tiền 888.800.000 đồng và số tiền 900.000.000 đồng gửi tiết kiệm bà L đang
giữ.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Thanh L về
yêu cầu chia công s ức đóng góp c ủa con chung là Lê Văn C và Lê Thị Yến N1
trong khối tài sản chung, của hai vợ chồng.
Ngòai ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về việc đình chỉ giải quyết yêu cầu
của đương sự, chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 12/9/2023, nguyên đơn bà Đào Thị Thanh L kháng cáo một phần bản
án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ th ẩm theo hướng không
buộc bà phải có trách nhiệm trả cho ông S số tiền 23.574.000 đồng liên quan đến
số tiền góp vón vào Công ty cổ phần N2.
Ngày 12, 20/9/2023, bị đơn ông Lê Văn S kháng cáo và kháng cáo bổ sung
không đồng ý với kết quả định giá, yêu cầu chia theo tỷ lệ 7/3 tòan bộ nhà đất và
hiện vật và chấp nhận tòan bộ phản tố của ông S.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình phúc th ẩm số 28/2023/HNGĐ-PT ngày
04/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khỏan 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận phần kháng cáo của nguyên đơn bà Đào Thị Thanh L.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo bị đơn ông Lê Văn S.
- Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình số 35/2023/HNGĐ-ST ngày 29/08/2023
của Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào
Thị Thanh L; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Lê Văn S.
I. Chia cho bà Đào Thị Thanh L được quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng
đất bao gồm các tài sản sau:
1. Thửa đất số 24 (số mới 180), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
57.3m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 62.2m2) và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 40.6m2, tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 287627, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp
ngày 10/05/2002 cho hộ ông Lê Văn S. Tài sản trên đất là một phần khu nhà bán
hàng có móng đổ bê tông, trụ sắt, tường xây gạch, nền lát gạch Ceramic, trần thạch
cao, xà gồ sắt, mái lợp tôn, hệ thống đi dạng cửa cuốn bằng sắt. Thửa đất có vị trí,
tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 5.58m + 1.26m + 11.33m.
- Phía Tây: Giáp thửa 23 (số thửa mới 254) có cạnh dài: 7.71m + 10.05m.
- Phía Nam: Giáp thửa 26 (số thửa mới 205) có cạnh dài: 1.77m + 4.23m.
- Phía Bắc: G có cạnh dài: 5.91m.
2. Thửa đất số 46 (số mới 219), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
105m2, trong đó 75m 2 đất ở đô th ị và 30m 2 đất màu (di ện tích đo đ ạc m ới là
108.7m2, trong đó có 75m 2 đất ở đô thị và 33.7m2 đất trồng cây hàng năm khác),
tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA 358954, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp ngày 05/11/2004 cho hộ
ông Nguyễn Bá Đ, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 26/02/2014 mang tên ông Lê Văn
S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất là nhà xây cấp 4 diện tích 106m2, móng
xây gạch, nền láng xi măng, tường xây gạch, xà gồ sắt, mái lợp tôn, cửa đi không
có cánh. Thửa đất có vị trí tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp th ửa 38 (th ửa mới 238) và th ửa 25 (th ửa mới 220) có
cạnh dài: 10.75m + 8.57m.
- Phía Tây: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 11.41m + 0.32m + 7.82m.
- Phía Nam: Giáp thửa 46a (thửa mới 237) có cạnh dài: 5.76m.
- Phía Bắc: Giáp thửa 27 (thửa mới 255) có cạnh dài: 0.11m + 5.39m.
3. Thửa đất số 39 (số mới 258), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích:
91,6m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 92.9m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270191, do
Ủy ban nhân dân huy ện E cấp ngày 03/05/2006 cho h ộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L. Tài sản trên đất là dãy nhà trọ kết cấu Móng xây đá hộc, nền láng xi
măng, T xây gạch quyét sơn, xà gồ gỗ, mái lợp tôn. Thửa đất có vị trí tứ cận, cạnh
dài như sau:
- Phía Đông: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 9.77m.
- Phía Tây: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 9.78m.
- Phía Nam: Giáp thửa đất số 48 có cạnh dài: 9.42m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 38 (số thửa mới 238) và thửa đất số 46a (số thửa
mới 237) có cạnh dài: 5.56m + 4.02m.
4. Thửa đất số 38 (số mới 238), t ờ bản đồ số 10 (số mới 100), di ện tích:
119.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 111.1m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270190, do
Ủy ban nhân dân huy ện E cấp ngày 03/05/2006 cho h ộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L. Tài sản trên đất là dãy nhà trọ kết cấu móng xây đá hộc, nền láng xi
măng, tường xây gạch quét sơn, xà g ồ gỗ, mái lợp tôn. Thửa đất có vị trí, tứ cận,
cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 27,74m.
- Phía Tây: Giáp thửa đất số 46 (thửa mới 219) và thửa đất số 46a (thửa mới
237) có cạnh dài: 18.97m + 8.57m.
- Phía Nam: Giáp thửa đất số 39 (thửa mới 258) có cạnh dài: 4.02m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 25 (thửa mới 220) có cạnh dài: 3.88m.
5. Thửa đất số 31 (số mới 01), tờ bản đồ số 05 (số mới 100), diện tích: 223m2
(trong đó có 150m2 đất ở và 73m2 đất trồng cây hàng năm); diện tích đo đạc mới là
233.9m2 (trong đó 150m2 đất ở và 83.9m2 đất trồng cây hàng năm khác và 22.8m2
đất nằm trong hàng lang giao thông), tại khối C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 001952, do Ủy ban nhân dân huyện
E cấp ngày 11/3/2009 cho ông Lê Văn S . Tài s ản trên đ ất là nhà kho di ện tích
252m2, kết cấu móng xây đá hộc, nền láng xi măng, tường xây gạch, quét sơn, xà
gồ bằng sắt, mái lợp tôn. Hệ thống cửa sắt dạng kéo. Thửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh
dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa đất số 19, 102, 101 có cạnh dài: 38.96m + 3.77m.
- Phía Tây: Giáp thửa đất số 17 có cạnh dài: 3.83m + 38.89m.
- Phía Nam: Giáp đường L có cạnh dài: 6m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 100 có cạnh dài: 6m.
6. Thửa đất số 50 (số mới 01), tờ bản đồ số 23 (số mới 40), diện tích 2.810m2
(diện tích đo đạc mới là 2.595,7m2 đất trồng cây lâu năm) tại tổ dân phố D, thị trấn
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 798269
do Ủy ban nhân dân huyện E cấp ngày 16/5/2012 cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị
Thanh L. Thửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp đường bê tông có cạnh dài: 10.74m + 15.35m + 10.49m
+ 86.80m.
- Phía Tây: Giáp đường bê tông cạnh dài: 33.59m + 29.58m + 49.07m.
- Phía Nam: Giáp đường bê tông có cạnh dài: 3.93m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 10 có cạnh dài: 0.67m + 28.47m + 15.01m.
7. Thửa đất số 48a, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.150m2, (trong đó có 200m 2
đất ở và 950m2 đất trồng cây hàng năm khác), tại Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 517858, do Ủy ban nhân dân
huyện E cấp ngày 01/06/2005. Thửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa đất số 49a có cạnh dài: 116m.
- Phía Tây: Giáp thửa đất số 48 cạnh dài: 116m.
- Phía Nam: Giáp đường có cạnh dài: 10m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 27 có cạnh dài: 9m.
8. Thửa đất số 49a, tờ bản đồ số 13, diện tích 330m2 (trong đó có 150m2 đất
ở tại nông thôn và 180m2 đất trồng cây hàng năm), tại thôn A, xã C, huyện E, tỉnh
Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 532481, do Ủy ban nhân
dân huyện E cấp ngày 23/12/2006 mang tên hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh
L. Thửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa đất số 49 có cạnh dài: 110m.
- Phía Tây: Giáp thửa đất số 48a cạnh dài: 110m.
- Phía Nam: Giáp đường có cạnh dài: 3m.
- Phía Bắc: Giáp thửa đất số 25 có cạnh dài: 3m.
Tài sản trên thửa đất số 48a và 49a g ồm có 01 ao nư ớc kích thước (9×16),
sâu khỏang 3m; 01 gi ếng đào đường kính 1,2m sâu 12m; 01 cây m ận trồng năm
1985, 01 cây chuối, 01 bụi tre, 01 cây mít và hàng rào.
9. Thửa đất số 79, tờ bản đồ số 07, diện tích 220m2 (trong đó có 150m2 đất
ở và 70m2 đất trồng cây lâu năm khác), t ại thôn E, xã E, huy ện E, tỉnh Đắk Lắk,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 513663, do Ủy ban nhân dân huyện
E cấp ngày 24/7/2009, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 29/12/2016 chuyển nhượng cho
ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất gồm nhà ở 1 và nhà ở 2, nhà
vệ sinh, mái hiên, mái che và sân bê tông. Th ửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh dài như
sau:
- Phía Đông: Giáp đường liên thôn có cạnh dài: 67m.
- Phía Tây: Giáp thửa đất 80 có cạnh dài: 66.70m.
- Phía Nam: Giáp Quốc lộ B có cạnh dài: 4.8m.
- Phía Bắc: Giáp thửa 03 có cạnh dài: 3.4m.
Tổng giá trị tòan bộ tài sản bà Đào Thị Thanh L được chia là: 19.256.392.800
đồng.
II. Chia ông Lê Văn S được được quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất
bao gồm các tài sản sau:
1. Thửa đất số: 22 (s ố mới 204), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
27,5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đạc mới là 32.1 m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 38m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O366543, do Ủy ban nhân dân huyện E cấp
ngày 10/05/2002 cho hộ Tôn Nữ Thị L2, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 25/06/2012
chuyển nhượng cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất gồm:
một nhà xây là nhà xây 2 t ầng, móng và tr ụ đổ bê tông, tư ờng xây g ạch, nền lát
gạch C1, trần thạch cao. Thửa đất có vị trí tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa 23 (thửa mới 254) có cạnh dài: 7.94m + 8.90m.
- Phía Tây: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 3.99m + 0.17m + 3.83m + 4.15m
+ 2.76m.
- Phía Nam: Giáp thửa 27 (thửa mới 255) có cạnh dài: 3.06m.
- Phía Bắc: Giáp Quốc lộ B có cạnh dài: 5.04m + 0.96m.
2. Thửa đất số 23 (số mới 254), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích:
32.5m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 37.6m 2 và diện tích nằm trong hành
lang giao thông là 35.5m2), tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481891, do Ủy ban nhân dân huy ện E
cấp ngày 02/12/2009 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L. Tài sản trên đất
là khu nhà bán hàng. Thửa đất có vị trí tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa 24 (thửa mới 180) có cạnh dài: 7.41 m + 10.05m.
- Phía Tây: Giáp thửa 22 (thửa mới 204) có cạnh dài: 7.94m + 8.90m.
- Phía Nam: Giáp thửa 27 (thửa mới 255), thửa 26, (thửa mới 205) có cạnh
dài: 3.61m.
- Phía Bắc: Giáp Quốc lộ B có cạnh dài: 5.04m.
3. Thửa đất số 27 (số mới 255), tờ bản đồ số 09 (số mới 100), diện tích: 78m2
đất ở đô thị (diện tích do đạc mới là 76.6m2) tại tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 262870, do Ủy ban
nhân dân huyện E cấp ngày 18/8/2006 cho hộ ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh
L. Thửa đất có vị trí tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp thửa 26 (thửa mới 205) có cạnh dài: 14.51m.
- Phía Tây: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 13.50m.
- Phía Nam: Giáp thửa 46 (thửa mới 219) có cạnh dài: 5.39m.
- Phía Bắc: Giáp th ửa 22 (th ửa mới 204), th ửa 23 (th ửa mới 254) có c ạnh
dài: 3.06m + 2.44m.
4. Thửa đất số 26 (số mới 205), t ờ bản đồ số 09 (số mới 100), di ện tích :
78m2 đất ở đô thị (diện tích đo đ ạc mới là 79.7m 2), tại tổ dân phố C, thị trấn E,
huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 270188, do
Ủy ban nhân dân huy ện E cấp ngày 03/05/2006 cho h ộ ông Lê Văn S và bà Đào
Thị Thanh L. Thửa đất có vị trí, tứ cận, cạnh dài như sau:
- Phía Đông: Giáp đường hẻm có cạnh dài: 45.37m.
- Phía Tây: Giáp thửa 27 (thửa mới 255) có cạnh dài: 14.51m.
- Phía Nam: Giáp thửa 25 (thửa mới 220) có cạnh dài: 0.92m + 4.41m.
- Phía Bắc: Giáp th ửa 23 (th ửa mới 254), th ửa 24 (th ửa mới 180) có c ạnh
dài: 1.77m + 4.23m.
Tài sản trên thửa đất số 205 và 255 là nhà xây c ấp 3 gồm 4 tầng diện tích
xây dựng 745m2, gồm 1 tầng hầm, một tầng trệt và hai tầng lầu. Móng khung trụ,
sàn, lầu, cầu thang đổ bê tông, cốt thép, nền lát gạch Ceramic, tường xây gạch sơn
nước, mái đổ bê tông. Hệ thống cửa đi và cửa sổ bằng gỗ và bằng kính cường lực
và khu bán hàng.
5. Tòan bộ hàng hóa theo biên bản kiểm đếm, kiểm kê ngày 05/02/2021 đến
07/02/2021 có giá trị là 17.385.500.000 đồng đã bàn giao tòan bộ cho ông Lê Văn
S để tiếp tục kinh doanh sau khi kiểm đếm.
6. Được thu hồi tòan bộ số tiền khách hàng nợ theo biên bản kiểm đếm, kiểm
kê ngày 05/02/2021 đến 07/02/2021 là 2.695.236.000 đồng.
Tổng tòan bộ tài sản ông S được chia có giá trị là: 33.741.892.900 đồng.
Buộc ông Lê Văn S phải có trách nhiệm trả cho bà Đào Thị Thanh L số tiền
chênh lệch chia tài sản chung là 6.584.530.850 đồng.
Buộc Bà Đào Thị Thanh L và ông Lê Văn S phải có trách nhiệm liên hệ đến
các cơ quan nhà nư ớc có th ẩm quyền đăng ký kê khai đ ể được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia theo quy định của pháp luật đất
đai.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Lê Văn S về
yêu cầu bà Đào Thị Thanh L phân chia tài sản đã góp vốn vào Công ty cổ phần N2
với số tiền 888.800.000 đồng. Công nhận sự thỏa thuận của ông S và bà Lê đối v
số tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng S6 – chi nhánh huyện E, mỗi người được hưởng
900.000.000 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Thanh L về
yêu cầu chia công s ức đóng góp c ủa con chung là Lê Văn C và Lê Thị Yến N1
trong khối tài sản chung của hai vợ chồng.
Bác yêu c ầu khởi kiện của bà Đào Thị Thanh L về việc xác đ ịnh số tiền
633.000.000 đồng gửi cho các con chung là tài s ản chung và mỗi người phải chịu
½. Ngòai ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng và án phí.
Ngày 03/01/2024 và ngày 26/02/2024, ông Lê Văn S có đơn đề nghị xem xét
lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Ông đề nghị hủy Bản án hôn nhân và gia đình
sơ thẩm số 35/2023/HNGĐ-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh
Đắk Lắk và Bản án hôn nhân và gia đình phúc th ẩm số 28/2023/HNGĐ-PT ngày
04/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để giải quyết lại vì Bản án sơ thẩm
và Bản án phúc thẩm nêu trên gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của Ông.
Ngày 24/01/2024, Công ty L5 (bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê
Văn S) làm đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm với cùng nội dung.
Ngày 01/4/2024, Chánh án Tòa án nhân dân c ấp cao tại Đà Nẵng ban hành
kháng nghị số 02/2024/KN-HNGĐ đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hôn nhân và gia
đình phúc thẩm số 28/2023/HNGĐ-PT ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk và B ản án hôn nhân và gia đình sơ th ẩm số 35/2023/HNGĐ-ST ngày
29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk để xét xử sơ thẩm lại theo
đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận
Quyết định kháng nghị số 02/2024/KN-HNGĐ ngày 01/4/2024 của Chánh án Tòa
án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] V ề định giá tài s ản: t ại Biên b ản xem xét th ẩm đ ịnh t ại ch ỗ ngày
06/6/2022 của Tòa án nhân dân huy ện E (bl 419) thể hiện các thửa số 204 (số cũ
22), 254 (số cũ 23), 180 (số cũ 24) có mặt tiền tiếp giáp đường N (Quốc lộ B); còn
thửa số 255 (số cũ 26) và th ửa số 205 (số cũ 27) có m ặt tiền tiếp giáp đường bê
tông r ộng kho ảng 2 mét. T ại m ục 9.1 Ch ứng thư đ ịnh giá s ố 473
BĐS/2023/CTTĐG-THBM ngày 19/6/2023 của Công ty cổ phần T1 Ban Mê đều
xác định giá tr ị quyền sử dụng đất của cả 5 thửa đất nêu trên cùng m ột mức giá
42.887.000 đồng/m2 là không đúng quy định tại Điều 112 Luật Đất đai năm 2013
về nguyên tắc, phương pháp định giá đất, bởi lẽ các thửa đất tiếp giáp với đường
Quốc lộ và đường bê tông (đường hẽm) có vị trí khác nhau, khả năng sinh lợi khác
nhau. Việc xác định cùng một mức giá của 5 thửa đất nêu trên đã làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (ông S) khi nhận hiện
vật là quyền sử dụng đất đối với thửa số 255 (số cũ 26) và thửa số 205 (số cũ 27).
Sau khi xét xử sơ thẩm, tại đơn kháng cáo ngày 15/9/2023 (bl 1285, 1290), ông S
đã khiếu nại về kết quả định giá. Tại phiên tòa phúc th ẩm ngày 04/12/2023, H ội
đồng xét xử không làm rõ nội dung kháng cáo này của ông S để yêu cầu đương sự
định giá lại tài sản mà chỉ nhận định việc định giá có sai sót về mặt thủ tục là chưa
xem xét tòan diện vụ án.
[1.2]. Đối với yêu cầu phản tố của ông Lê Văn S yêu cầu chia số tiền góp
vốn tại Công ty cổ phần N2 (sau đây viết tắt là Công ty): ông S cho rằng phần vốn
góp của Ông và bà Lê t Công ty theo Công b ố thông tin t ừ ngày 11/6/2016 đ ến
ngày 23/7/2016 là 888.800.000 đ ồng; bà L trình bày ph ần v ốn góp ch ỉ có
750.000.000 đ ồng và B đã rút v ốn t ừ năm 2017. Còn t ại Đơn trình bày ngày
09/5/2022 của Công ty cổ phần N2 (bl 609) thể hiện: từ ngày 07/9/2019 đến ngày
16/12/2019, bà L đã rút vốn bằng cách lấy hàng điện gia dụng tại Công ty cho Cửa
hàng Văn Sang với giá trị hàng là 304.509.000 đồng; từ ngày 04/02/2020 đến ngày
22/01/2021, bà Lê r vốn b ằng cách l ấy hàng cho Cửa hàng V với giá tr ị hàng
398.323.000 đồng. Xét thấy các đương sự đều thừa nhận ông S là người trực tiếp
quản lý Cửa hàng V, tại thời điểm cấn trừ hàng hóa lần 2 từ ngày 04/02/2020 đến
ngày 22/01/2021 thì giữa bà L và ông S đã ly hôn. Ông S không thừa nhận có việc
nhập hàng để cấn trừ phần góp vốn như bà L trình bày, đồng thời trình bày của bà
L cũng mâu thuẫn với nội dung Đơn trình bày nêu trên c ủa Công ty. Ngòai ra, bà
Đào Thị Thanh L là Giám đ ốc Chi nhánh Buôn Ma Thu ột của Công ty nên n ội
dung trình bày này của Công ty chưa thực sự khách quan. Trường hợp này cần thu
thập thêm tài liệu, chứng cứ thể hiện bà L đã thực sự rút vốn hay chưa, rút tại thời
điểm nào, rút v ốn bằng hình th ức nào, đăng ký doanh nghi ệp và S ổ đăng ký c ổ
đông của Công ty còn tên bà L hay không… từ đó mới có đủ cơ sở giải quyết yêu
cầu phản tố này của ông S. Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án c ấp sơ thẩm chỉ căn
cứ vào nội dung trình bày c ủa bà L và Công ty, xác đ ịnh khỏan tiền góp vốn này
chỉ còn 47.148.000 đồng là chưa đủ cơ sở.
[1.3]. Đối với các khỏan tiền tiết kiệm tại Ngân hàng S6 – Phòng G (ông S
và bà Lê m người giữ một sổ tiết kiệm trị giá 900.000.000 đồng và đã chi tiêu) ;
khỏan tiền 150.000.000 đồng bà H (là mẹ kế của bà L) đã trả nợ cho bà L; yêu cầu
của bà L về tính công sức đóng góp của các con chung là anh Lê Văn C2 và chị Lê
Thị Yến N1 trong khối tài sản chung; giải quyết đình chỉ đối với việc rút yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Tòa án đã xem xét, giải quyết
đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về xác định tài sản chung: căn cứ vào trình bày của các đương sự và
các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, về tài sản chung của vợ chồng là quyền sử
dụng đất và tài s ản gắn liền trên đ ất thì Tòa án c ấp sơ th ẩm và Tòa án c ấp phúc
thẩm xác định 13 bất động sản gồm các thửa đất số 22, 23, 24, 26, 27, 46 (t ờ bản
đồ số 09 cũ); 31 (tờ bản đồ số 05 cũ); 38, 39 (tờ bản đồ số 10 cũ), 50 (tờ bản đồ số
23 cũ); 48a, 49a (tờ bản đồ số 13) và 79 (tờ bản đồ số 7) cùng tọa lạc tại huyện E,
tỉnh Đắk Lắk là đúng.
[2.2] Về tính công sức đóng góp, tạo lập tài sản để phân chia tài sản chung:
Đối với thửa đất số 23 (số cũ): thửa đất này được Ủy ban nhân dân huyện E
cấp cho cụ Lê Văn S2 và cụ Đòan Thị H1 (cha mẹ của ông S) theo Quyết định giao
đất số 640/QĐ-UB ngày 10/8/1993. Ngày 27/8/2009, cụ H1 và cụ S2 ký hợp đồng
tặng cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L (bl 469-472). Như vậy, đánh giá về
nguồn gốc, công sức hình thành tài sản chung thì ông S có công sức đóng góp lớn
hơn bà L. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét
nguồn gốc tài sản mà lại chia tỉ lệ 5/5 đối với giá trị thửa đất và tài s ản trên thửa
đất này là không phù hợp với Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không đảm bảo quyền lợi cho ông S.
Đối với các thửa đất số 31, 48a, 49a, 26, 27 (số cũ): ông Lê Văn S khiếu nại
cho rằng thửa số 31 là tài s ản riêng c ủa ông do ông nh ận chuyển nhượng từ bà
Hùynh Thị Phương L3 theo Đơn xin nhượng đất thổ cư và nhà ở ngày 08/02/2003
(bl 581) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 001952 do UBND huyện E
cấp ngày 11/3/2009 cho m ột mình ông Lê Văn S đứng tên (bl 569-570). Còn các
thửa 48a có nguồn gốc từ cụ Đòan Thị H1 và cụ Lê Văn S2 (cha mẹ ông S) tặng
cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 11/5/2005 (bl 427); th ửa 49a có nguồn gốc từ cố Lê Thị S3 (bà
nội của ông S) tặng cho ông Lê Văn S và bà Đào Thị Thanh L theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/11/2005 (bl 517-518); thửa 27 do một
mình ông S đứng tên trên H ợp đ ồng chuy ển như ợng quy ền s ử dụng đ ất ngày
12/6/2006 với ông Đặng Kim S4 và bà Trần Thị Thu L4 (bl 486); thửa 26 do một
mình ông S đứng tên trên H ợp đ ồng chuy ển như ợng quy ền s ử dụng đ ất ngày
05/4/2006 với ông Đặng Kim S4 (bl 505). Các thửa đất này sau đó được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S với bà L. Trong qúa trình giải quyết vụ
án, mặc dù ông S đều thừa nhận các tài sản này là tài sản chung của vợ chồng nhưng
cho rằng ông có công sức đóng góp nhiều hơn. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ nêu
trên thì nguồn gốc hình thành các tài sản này là do được tặng cho từ cha mẹ, bà nội
của ông S hoặc do một mình ông S nhận chuyển nhượng. Do đó, đánh giá về nguồn
gốc, công sức tạo lập, hình thành các tài s ản này thì ông S có công sức đóng góp
lớn hơn bà L. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chia giá trị các tài sản
này theo tỷ lệ 5/5 là không đúng với Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 nêu trên,
ảnh hưởng đến quyền lợi của ông S. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án c ấp
phúc thẩm chưa xem xét nguồn gốc tài sản và đánh giá công sức đóng góp tạo lập
nên các tài sản trên, từ đó chia tài sản chung sau ly hôn không phù hợp là ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông S.
[2.2]. Về việc chia hiện vật:
Tại hồ sơ vụ án thể hiện, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận Cửa hàng
Văn Sang tọa lạc trên các thửa đất số 22, 23, 24, 26, 27 (số thửa cũ). Mặt tiền Cửa
hàng V gồm 2 gian hàng số 1 và số 2 nằm trên 3 thửa 22, 23, 24; tại Biên bản thẩm
định tại chỗ ngày 06/6/2022 thể hiện: “Trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 9 là quán
xây đang kinh doanh bán hàng đi ện tử nhà xây hai lầu, nền lát gạch hoa xây hết
phần diện tích đất; trên các thửa đất số 23, 24, tờ bản đồ số 9 là quán xây cấp 4,
nền lát gạch hoa, xây h ết phần diện tích đất, mái lợp tôn” (bl 409). T ại các Biên
bản ghi l ời khai, Biên b ản hòa gi ải vào ngày 29/10/2021, ngày 07/4/2022, ngày
30/6/2022, ngày 28/6/2023, các bên đương sự thống nhất: “Trường hợp ai mà được
Tòa án giao cho c ửa hàng tiếp tục kinh doanh thì có trách nhi ệm nhận nợ số nợ,
có trách nhi ệm đòi n ợ theo quy đ ịnh”. Căn c ứ nguồn gốc hình thành tài s ản và
người đang trực tiếp quản lý Cửa hàng Văn S là ông S, còn bà L đã chuyển đi nơi
khác sinh sống nên Tòa án đã giao hàng t ồn và số tiền khách hàng nợ cho ông S.
Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại tách một phần cửa hàng số
2 (thửa đất số 23) giao cho ông S, còn giao thửa đất số 24 (một phần cửa hàng số
2) có phần diện tích và phần mặt tiền cửa hàng lớn hơn cả cho bà L là không hợp
lý, vì: theo quy đ ịnh tại điểm c khỏan 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình,
nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ph ải “Bảo vệ lợi ích
chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có
điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”, việc Tòa án chia cửa hàng (gồm 3 thửa
đất phía trước) ảnh hưởng đến việc khả năng sinh lợi của cửa hàng và công vi ệc
tiếp tục sản xuất kinh doanh của ông S (là người nhận hàng tồn và thu hồi nợ). Theo
thỏa thuận của các bên đương sự thì bên nào nhận của hàng thì phải nhận hàng tồn,
thu hồi nợ nhưng Tòa án quyết định giao một phần cửa hàng cho bà L nhưng không
chia số hàng hay giao cho bà L thu hồi một phần nợ là vừa không đúng thỏa thuận
của các bên đương s ự vừa vi ph ạm nguyên t ắc chia tài s ản trong s ản xuất, kinh
doanh. Nên cần phải hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm về phần này để chia lại phần
hiện vật đảm bảo đúng pháp luật.
[3]. Vì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm có nhiều sai sót trong
tố tụng cũng như nội dung đối với việc phân chia tài sản chung vợ chồng cũng như
việc giao hi ện vật nên c ần chấp nhận Quyết định kháng ngh ị giám đốc thẩm số
02/2024/KN-HNGĐ ngày 01/4/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng, hủy Bản án hôn nhân và gia đình phúc th ẩm số 28/2023/HNGĐ-PT ngày
04/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án hôn nhân và gia đình sơ
thẩm số 35/2023/HNGĐ-ST ngày 29/8/2023 c ủa Tòa án nhân d ân huyện E, tỉnh
Đắk Lắk để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khỏan 3 Điều 343; Điều 345 của Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Hủy Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 28/2023/HNGĐ-PT ngày
04/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án hôn nhân và gia đình sơ
thẩm số 35/2023/HNGĐ-ST ngày 29/8/2023 c ủa Tòa án nhân dân huy ện E, tỉnh
Đắk Lắk, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huy ện E, tỉnh Đắk Lắk để xét xử sơ
thẩm lại.
2. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám
đốc thẩm ra Quyết định.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
- Chi cục THA dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu: Phòng GĐKT I (03 bản), HCTP, LTHS.
Trần Quốc Cường
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
