Bản án số: 123/2022/DSPT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Bản án số: 123/2022/DSPT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 05/2016/AL
Ngày thông qua 1974-06-21
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Dân sự
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 123/2022/DSPT

Ngày: 09-3-2022

V/v: “Đòi đất cho ở nhờ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Bà Phạm Thị Duyên

  • Thư ký phiên tòa : Bà Hòang Thị Kim Nhi – Thư ký viên, Tòa án nhân

dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh: Ông Vũ Thanh Sơn – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 02 đến ngày 09 tháng 03 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân

dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ

lý số 151/2021/TLPT-DS ngày 05 tháng 02 năm 2021 về việc “Đòi đất cho ở

nhờ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 54/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020

của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 149/2022/QĐPT-DS

ngày 14 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1940;

Địa chỉ: X, tổ 2, ấp Thạnh An, xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo, tỉnh

Tiền Giang. (có mặt)

  • Bị đơn: Ông Trang Thanh T, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Số Y, Ô3, Khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

(có mặt)

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1933; (xin vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1955; (xin vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1965; (xin vắng mặt)

4. Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1970; (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số Z, Ô3, Khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, Tiền

Giang.

5. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Bình Phú, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền

Giang.

6. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1958; (vắng mặt)

Địa chỉ: K, Greenway Ave Philadelphia, PA, 19142 USA.

Địa chỉ cư trú cuối cùng : Khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh

Tiền Giang.

7. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1965; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số N, Ô3, Khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

8. Chị Nguyễn Thị Bạch M, sinh năm 1972; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: M, ô 2, khu 2, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

9. Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số J, Trưng Trắc, phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

10. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1935; (đã chết)

11. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Số H, ấp 10, xã Phú Thịnh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

12. Bà Nguyễn Thị Bạch, sinh năm 1960; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số G, Ô3, khu 4, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền

Giang.

13. Ông Nguyễn Văn Công, sinh năm 1960;(xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Hòa Lợi Tiểu, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

14. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963; (vắng mặt)

Địa chỉ: số F, Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, TP. HCM.

15. Bà Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1966; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Bình Đông, xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

16. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: L, Lê Thị Hồng Gấm, khu phố 3, phường 6, thành phố Mỹ Tho,

tỉnh Tiền Giang.

17. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1972; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Hòa Lợi Tiểu, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

18. Chị Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1975; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Hòa Lợi Tiểu, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

19. Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1970; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số K, đường 36, phường Linh Đông, Quận Thủ Đức, thành phố

Hồ Chí Minh.

20. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957; (vắng mặt)

Địa chỉ: số Y, ấp Bình Tây, xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền

Giang.

21. Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1959; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số R, Ô 3, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

22. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số T, Ô1, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

23. Bà Nguyễn Thị Nguyệt H, sinh năm 1964; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, Ô1, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

24. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số W, Ô1, khu 2, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền

Giang.

25. Anh Võ Thành T, sinh năm 1973; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số Q, Ô3, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

26. Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1942; (có mặt)

Địa chỉ: Số F, tổ 2, ấp Thạnh An, xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo, tỉnh

Tiền Giang.

27. Chị Phạm Kim D, sinh năm 1970; (có mặt)

28. Anh Trang Thanh H, sinh năm 1996; (vắng mặt)

29. Chị Trang Thị Thanh H, sinh năm 2001; (vắng mặt)

Cùng trú tại địa chỉ: Số P, Ô3, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo,

tỉnh Tiền Giang.

30. Anh Trang Thế C, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: 6600, Greenway Ave Philadelphia, PA, 19142 USA.

Địa chỉ cư trú cuối cùng : Số P, Ô3, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ

Gạo, tỉnh Tiền Giang.

  • Người kháng cáo: Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  • Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng,

nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:

Vào năm 1974 ông và vợ ông là Nguyễn Thị Ng có mua lô đất tọa lạc tại Ô

3, khu 3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang và được quận

trưởng quận Chợ Gạo cấp giấy phép cất nhà số 13/HCTQ ngày 21/6/1974 .

Khỏang năm 1984 bà Nguyễn Thị Đ là chị vợ ông v ượt biên không thành, bị

chính quyền tịch thu nhà phải về ở nhờ nhà bà Nguyễn Thị K. Thấy hòan cảnh

bà Đ khó khăn, lại là chị ruột của vợ nên vợ chồng ông cho bà Đ ở nhở nhà ông.

Ngày 28/8/1988 vợ chồng ông có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà được Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Gạo xác nhận ngày 05/9/1998.

Sau đó bà Đ đã phá dỡ nhà của ông và cất nhà khác ngay tại vị trí nhà của ông.

Đến năm 2003 chồng bà Đ qua đời, vì tình cảm ông vẫn để cho bà Đ và Trang

Thanh T tiếp tục ở, anh T lại phát dỡ nhà bà Đ tự ý xây lại nhà mới.

Mới đây, ông tình cờ biết được phần đất ông cho bà Đ ở nhờ đã được cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ là trái pháp luật, ông đã làm đơn

tranh chấp gởi Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Gạo, đến ngày 11/5/2007 Ủy ban

nhân dân thị trấn Chợ Gạo hòa giải không thành. Ông thống nhất giá đất theo

biên bản định giá ngày 19/02/2009 , vì so với hiện nay không chênh lệch và lấy

số tròn là 750.000.000 đồng.

Nay ông yêu cầu ông Trang Thanh T trả lại vợ chồng ông ½ giá trị đất theo

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 188,72m2 với tổng giá trị là

750.000.000 đồng/2 = 375.000.000 đồng tọa lạc tại số P, Ô 3, khu 3, thị trấn Chợ

Gạo, tỉnh Tiền Giang. Ngòai ra, không yêu cầu gì khác.

  • Bị đơn ông Trang Thanh T. Theo các lời khai trong quá trình tham gia tố

tụng và tại phiên tòa trình bày:

Nguyên căn nhà lá thô s ơ tọa lạc số P, quốc lộ 50, Ô 3, khu 3, thị trấn Chợ

Gạo, tỉnh Tiền Giang có diện tích 122,96m 2 nằm trên phần đất thổ c ư diện tích

188,72m2 có nguồn gốc của ông bà ngọai ông tên là Nguyễn Văn Ng (sinh năm 1898,

chết năm 1976) và Phạm Thị P (sinh năm 1899, chết năm 1982). Ông bà ngọai ông

chết không để lại di chúc, có tất cả 06 người con chung gồm: Nguyễn Văn Ch (đã chết

năm 2008), Nguyễn Văn T (chết năm 1980), Nguyễn Văn Th, Nguyễn Thị K, Nguyễn

Thị Ng, Nguyễn Thị Đ (mẹ ông).

Ngày 05/11/1992 tất cả các con của ông bà ngọai cùng thống nhất thỏa

thuận làm đơn xác nhận quyền thừa kế và đất tại số P, Ô 3, khu 3, thị trấn Chợ

Gạo, tỉnh Tiền Giang cho mẹ ông là bà Nguyễn Thị Đ, có giấy xác nhận và đề

nghị cấp chủ quyền cho mẹ ông đề ngày 10/11/1992 của Ủy ban nhân dân thị

trấn Chợ Gạo. N ăm 1993 mẹ ông dỡ bỏ nhà lá đã mục nát h ư hỏng của ông bà

ngọai để xây lại thành nhà kiên cố.

Ngày 25/6/1993 mẹ ông được Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo cấp giấy

chứng nhận quyền sở hữu nhà cửa số 38/CN -UB nhà đất nói trên. Ngày

09/01/1998 mẹ ông được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở v à quyền sử dụng đất ở, vợ chồng ông và các con ông cùng

ở trên căn nhà này cùng với mẹ ông.

Năm 2003 mẹ ông mất, không để lại di chúc và có tất cả hai con chung là

ông và Trang Thế C . Ngày 05/02/2007 Trang Thế C làm giấy nh ượng quyền

hưởng di sản thừa kế c ho ông. Ngày 27/03/2007 ông làm thủ tục khai nhận di

sản thừa kế tại phòng công chứng số 01 tỉnh Tiền Giang. Ngày 07/5/2007 ông

được Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo cấp giấy quyền sở hữu nhà ở và quyền

sở hữu đất ở.

Nay theo yêu cầu của ông H ông không đồng ý, đề nghị Tòa án bác đơn

khởi kiện của ông H.

  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị B trình bày: bà là vợ ông Nguyễn Văn Ch, đối với vụ

kiện tranh chấp trên bà không ý kiến gì và xin không tham gia tố tụng và xin xét

xử vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị G, anh Nguyễn Thành P, ông Nguyễn Kim T, bà Nguyễn

Thị L, bà Nguyễn Thị A , bà Nguyễn Thị Bạch M trình bày: Chúng tôi là con

ông Nguyễn Văn Ch (đã chết), đối với vụ kiện tranh chấp trên chúng tôi không ý

kiến gì và xin không tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt. (bút lục 392, 387,

388, 389, 390)

3. Bà Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị Y: là con của ông Nguyễn Văn Châu

(đã chết): Tòa án đã tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp

luật nhưng không có văn bản trình bày ý kiến.

4. Bà Nguyễn Thị N , bà Nguyễn Thị Bạch, anh Nguyễn Văn Công, bà

Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị Bích Th, chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Nh,

chị Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Tấn Th trình bày: Chúng tôi là con ông Nguyễn

Văn T (đã chết), đối với vụ kiện tranh chấp trên chúng tôi không ý kiến gì và xin

không tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt. (bút lục 391)

5. Bà Nguyễn Thị H , ông Nguyễn Ngọc M , anh Nguyễn Văn H , chị

Nguyễn Thị Nguyệt H , chị Nguyễn Thị N trình bày: Ông, bà là con của ông

Nguyễn Văn Tiên (đã chết), Tòa án đã đã tống đạt văn bản tố tụng theo quy định

của pháp luật nhưng không có văn bản trình bày ý kiến.

6. Anh Võ Thành T trình bày: Anh Tr là con bà Nguyễn Thị K (đã chết),

Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có

văn bản trình bày ý kiến.

7. Bà Nguyễn Thị Ng trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn H, bà thống

nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông H.

8. Chị Phạm Thị Kim D, anh Trang Thanh H trình bày: Chị D, anh H là vợ

con của anh T, thống nhất theo lời trình bày của anh T.

9. Anh Trang Thế C: Tòa án đã đã tống đạt văn bản tố tụng theo quy định

của pháp luật nhưng không có văn bản trình bày ý kiến.

  • Tại Bản bản án dân sự sơ thẩm số 54/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm

2020, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

Buộc ông Trang Thanh T có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn

Thị Ng giá trị quyền sử dụng đất số 003 ngày 07/5/2007 do Ủy ban nhân dân

huyện Chợ Gạo cấp cho ông Trang Thanh T và chị Phạm Kim D , d iện tích

188,72m2, thửa 95, tờ bản đồ 30, tại số P, Ô3, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo,

tỉnh Tiền Giang, số tiền là 300.000.000 đồng.

Ngòai ra, bản án còn quyết định về thi hành án, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 05/10/2020 bị đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm , bác yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía bị đơn trình bày : Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, căn nhà

phía nguyên đơn đòi do bị đơn được hưởng thừa kế từ bà ngọai và đã được cấp

chủ quyền, đã sử dụng ổn định từ lâu. Phía nguyên đơn không chứng minh được

quyền sở hữu của mình đối với căn nhà ngòai bản photo giấy xin phép xây dựng

do chính quyền chế độ cũ cấp không chỉ rõ địa chỉ, vị trí và diện tích cho xây chỉ

là 4m x 5m; ngòai ra đối với giấy xin cấp sở hữu nhà của nguyên đơn cũng chưa

được sự xác nhận c hủ quyền của cơ quan có thẩm quyền, do đó đề nghị cấp

phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu của nguyên đơn.

Phía nguyên đơn trình bày: Căn nhà là của chúng tôi mua trước giải phóng,

sau đó cho gia đình bị đơn nhập khẩu vào ở nhờ, các tài l iệu chứng cứ trong hồ

sơ đã thể hiện rõ chủ quyền của chúng tôi đối với căn nhà. Đề nghị y án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ các

quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo:

Hồ sơ vụ án thể hiện chứng cứ của nguyên đơn như sau:

Giấy phép xin cất nhà mang số 13/HC-QT do quận trưởng quận Chợ Gạo cấp

ngày 21/5/1974 thể hiện chấp nhận cho ông H xây cất bằng vật liệu nhẹ, căn nhà tại

ấp Bình Đông dài 5 thước, cao 4 thước 5 tấc, rộng 4 thước.

Đơn xin giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số O, tổ 10, khu 6, Ô 3, khu vực

Chợ gạo, tỉnh Tiền Giang diện tích 150 m2.

Phía bị đơn đã kê khai, được cấp chủ quyền và được hưởng thừa kế căn nhà

từ bà ngọai và mẹ theo đúng luật định.

Xét tại giấy phép xây dựng cấp cho nguyên đơn không thể hiện được việc đã

xây nhà, vị trí căn nhà, diện tích cho phép xây cũng không phù hợp căn nhà tranh

chấp, tại hồ sơ thể hiện bà Ng (vợ nguyên đơn) thừa nhận nhà đất của bà ngọai bị

đơn và có ký thuận phân cho mẹ bị đơn sở hữu (BL 77), tại hồ sơ chưa đủ chứng cứ

chứng minh nhà số O và P là cùng một căn nhà. Do đó, các chứng cứ của nguyên

đơn không thể hiện được việc quyền sở hữu của mình đối với căn nhà tranh chấp

và đã cho bị đơn ở nhờ. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn, sửa

án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu và thẩm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và

quá trình tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định, được Hội

đồng xét xử xem xét.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:

[2.1]. Xét các chứng cứ của phía nguyên đơn về việc đòi nhà cho ở nhờ:

Theo xác nhận của bà Ngô Thị Thu H, ông Nguyễn Văn Đ, ông Lữ Tấn Đ là

những người làm chứng sinh sống từ lâu trong khu vực xác nhận việc gia đình

nguyên đơn ở trong căn nhà tranh chấp, bán cà phê có cho mẹ bị đơn về ở (bút lục

31, 158-160); Đơn truy lục xác nhận số nhà O của Công an thị trấn Chợ Gạo (bút

lục 102, 170, 175); năm 1996 bà Ng có hợp đồng mua bán điện tại số nhà O (bút

lục 174); năm 1998 bà Ng có nộp thuế tại địa chỉ số O Ô, khu 3, thị trấn Chợ Gạo;

năm 1974 ông H được Quận trưởng lúc bây giờ cho phép ông H cất nhà (bút lục

08); năm 1988 ông H có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà có xác

nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ Gạo (bút lục 07); Sổ hộ khẩu của bà

Nguyễn Thị Ng tại số nhà O (bút lục 41), các giấy khai sinh của con bà Ng cũng

thể hiện địa chỉ tại nhà số O (bút lục 164 – 167).

Các chứng cứ nên trên, phù hợp với xác nhận của Công an thị trấn Chợ Gạo

xác nhận số nhà O cấp 02 lần: Lần 1 cấp cho bà Ng, đến năm 2000 thì xóa số hộ

khẩu của bà Ng để cấp lại cho ông Nguyễn Thanh T (bút lục 512), và xác nhận số

nhà O ô 3 khu ph ố 3 có số mới là P ( BL818). Tại b iên bản làm việc ngày

25/9/2020 tại Công an thị trấn Chợ Gạo, Tổ trưởng tổ dân phố xác nhận nội dung

như sau: Căn nhà P có nguồn gốc là căn nhà O do bà Nguyễn Thị Ng đứng tên. Bà

Nguyễn Thị Đ vượt biên không thành, nên bà Ng cho bà Đ về ở phía sau trên phần

đất bà Ng. Sau đó, bà Ng mua phần đất của bà Nguyễn Thị C số nhà 144 gần kề

nhà O. Sau đó, bà Ng bán căn nhà số 144 cho ông Lữ Tấn Đ. Khi đó, bà Ng chuyển

hộ khẩu về xã An Thanh Thủy nên không còn sổ hộ khẩu O, nên bị hủy số O của bà

Ng cấp lại số hộ khẩu cho Nguyễn Thanh T cách đó khỏang 100m. Sau đó, bà Đ kê

khai cấp lại số nhà P hiện nay. Sau khi bà Đ chết ông T đứng tên quyền sử dụng

đất và nhà số 144. Khẳng định số nhà O trước đây và số nhà P là một vị trí (bút lục

777, 780).

Theo đơn ngày 18/12/1986 của bà Đ có nội dung xin nhập hộ khẩu về nhà chị

ruột ( BL 618 ) thể hiện sự thừa nhận về nguồn gốc căn nhà là của nguyên đơn.

[2.2]. Phía ông T cho rằng: Nguồn gốc đất trên của cụ Ng, cụ P. Năm 1992

các anh chị em xác nhận để bà Đ được đứng tên quyền sử dụng đất (có chữ ký của

ông Ch, bà K, bà Ng) nhưng không có chữ ký của ông Thọ, ông Tiên (con của ông

Ngọc, bà P), năm 1993 bà Đ xây nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất là không đúng quy định pháp luật. Năm 2003 bà Đ chết, anh C con bà Đ

nhường quyền thừa kế cho anh T (bút lục 94) nên anh T được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất và sở hữu nhà vào ngày 07/5/2007 (bút lục 764). Tại phiên tòa

phúc thẩm, ông T khẳng định căn nhà O và P có nguồn gốc vị trí hòan tòan khác

nhau. Như đã phân tích trên, theo chứng cứ ông H cung cấp và nội dung xác nhận

của Công an thị trấn Chợ Gạo thì lời trình bày của ông T là không có cơ sở.

[3]. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định nhà và đất tại số O trước đây và số P hiện

nay là một vị trí và thuộc sở hữu của ông H là có căn cứ. Do đó, ông H có quyền

yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả quyền sử dụng đất. Hiện nay, ông T đã cất nhà kiên

cố, ông H chỉ yêu cầu hòan lại ½ giá trị đất số tiền là 375.000.000 đồng , cấp sơ

thẩm chấp nhận và xem xét trả một phần công sức bảo quản gìn giữ tài sản cho ông

T theo Án lệ số 05/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với

số tiền là 75.000.000 đồng là phù hợp pháp luật.

[4]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm là có căn

cứ, do đó không chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn và quan điểm của Viện kiểm

sát.

[5]. Do không được chấp nhận kháng cáo nên ông T phải chịu án phí dân sự

phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khỏan 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trang Thanh T, giữ nguyên bản án sơ

thẩm số 54/2020/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh

Tiền Giang.

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

Buộc ông Trang Thanh T có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn

Thị Ng giá trị quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số 003 ngày 07/5/2007 do

Ủy ban nhân dân huyện Chợ Gạo cấp cho ông Trang Thanh T và bà Phạm Kim

D, diện tích 188,72m2, thửa 95, tờ bản đồ 30, tại số P, Ô3, thị trấn Chợ Gạo,

huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, số tiền là 300.000.000 đồng.

Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong tất cả các khỏan tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn

phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy

định tại khỏan 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  • Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trang Thanh T phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm . Hòan lại ông

Nguyễn Văn H 7.500.000 đồng theo biên lai thu số 013357 ngày 21/6/2007 của

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Trang Thanh T phải chịu 300.000 đ án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ

số tiền tạm ứng ông T đã nộp tại Biên lai thu số 0001446 ngày 05/10/2020 của Cục thi

hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9

Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND tối cao;
  • VKSND cấp cao tại TpHCM;
  • TAND tỉnh Tiền Giang;
  • Cục THADS tỉnh Tiền Giang;
  • Các đương sự;
  • Lưu: HS,VT,(HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Tuấn Vinh

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *