Bản án số: 87/2022/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 05/2016/AL |
| Ngày thông qua | 2018-05-28 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 87/2022/DS-PT
Ngày: 21- 02 – 2022
V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất; yêu cầu
hủy di chúc, đòi lại tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Trần Xuân Minh
Ông Hòang Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc- Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47 /2021/TLPT-
DS ngày 11 tháng 01 năm 20 21 về việc “ Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất; yêu cầu hủy di chúc, đòi lại tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/20 20/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 20 20
của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 515/2022/QĐ -PT ngày
24 tháng 01 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số A đường B, phường C,
thành phố D, tỉnh Kiên Giang ( có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1927. Địa chỉ: Số A đường B, phường C,
thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Tạm trú: A đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
3. Bà Trịnh Thị S, sinh năm 1950. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện U Minh,
tỉnh Cà Mau ( vắng mặt).
4. Ông Trịnh Ngọc G, sinh năm 1950. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh
Kiên Giang
Địa chỉ hiện nay: ấp A, xã B, huyện C, Kiên Giang (vắng mặt).
5. Bà Trịnh Thị M, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số A đường B, khu phố C,
phường D, thành phố E, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Tạm Trú: A đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
6. Bà N Thi Tran (tên gọi khác Trịnh Thị N), sinh năm 1959. Địa chỉ : A
Street B, C, D, Unite States of America (Hoa Kỳ) (có mặt).
Tạm trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
7. Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số A đường B, phường C,
thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Tạm trú: A đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà S, ông G, ông C, bà M: Ông
Trịnh Văn H, sinh năm 1970 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn bà T, bà S,
ông G, ông C, bà M và ông H: Luật sư Thái Hòang Long – Công ty Luật Phúc
Long thuộc Đòan Luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn : Ông Trịnh Ngọc G, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A đường B,
phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông G: Bà Trịnh Ngọc N , sinh năm
Địa chỉ: số A đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang (có
mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông G: Luật sư Nguyễn Văn
Bảo – Công ty Luật TNHH MTV Rùa Vàng thuộc Đòan Luật sư tỉnh Kiên Giang
(có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Bà N Thi Tran (tên gọi khác Trịnh Thị N), sinh năm 1959. Địa chỉ: A
Street B, C, D, Unite States of America (Hoa Kỳ) (có mặt)
Tạm trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trịnh T hị Đ, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số A đường B, phường C,
thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
2. Ông Trịnh Văn B, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh
Cà Mau (vắng mặt).
3. Bà Trịnh Mộng N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A ấp B, xã C, thành phố
D, tỉnh An Giang (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà N : Bà Trần Thị M, sinh năm
1976. Địa chỉ: Số A đường B, phường C, thành phố D, tỉnh C (có đơn xin xét xử
vắng mặt).
4. Bà Trần Thị Bích N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Số A, phường B, thành
phố C, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Chỗ ở hiện nay: Số A, đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang
5. Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A đường B, phường
C, thành phố B, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà T: Bà Trịnh Thị N.
6. Ban bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư thành phố A,
tỉnh B. Địa chỉ: Số A, phường B, thành phố C, Kiên Giang (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, Ông Trịnh Ngọc G, bà Trần Thị
Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 28/5/2018 và lời trình bày trong quá trình tố
tụng, ông Trịnh Văn H là nguyên đơn và cũng là người đại diện theo ủy quyền
của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, bà Trịnh Thị S, ông Trịnh Văn G, ông
Trịnh Văn C, bà Trịnh Thị M trình bày:
Năm 1970 cha mẹ của các ông bà là cụ Trịnh Tấn X sinh năm 1926 (ông
X chết năm 2010) và cụ Nguyễn Thị T có tạo lập được 1.000m 2. Đến năm 1989
con gái là Trịnh Thị N ( N Thi Trần) ở Mỹ gửi tiền về cho cha mẹ mua đất của
các ông T Xe Nhan, Hai O, Sáu B (đất liền kề với đất của gia đình). Tổng cộng
khỏang 15.197,94m2 thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 96 tọa lạc tại số A, phường
B, thành phố C, Kiên Giang. Năm 1993 cụ T và cụ X đã cho con là anh Trịnh
Văn C khỏang 2.500m2, cho anh Trịnh Văn H khỏang 2.500m2.
Ngày 02/7/2007 cụ X và cụ T lập di chúc trái quy định của pháp luật cho con
trai út là ông Trịnh Ngọc G với điều kiện để làm hương hỏa, không được bán,
chuyển nhượng nhưng đến năm 2015, 2016 ông G chuyển nhượng cho chị Trịnh
Mộng N diện tích khỏang 819m 2 (ngang 18m, dài 45m), chuyển nhượng cho bà
Trần Thị Bích N diện tích 1.820m 2 (ngang 20m, dài 90,93m). Đối với các phần
đất mà ông G đã chuyển nhượng cho bà N, bà N thì các ông bà không tranh chấp.
Nhà nước thu hồi 1.669,94 m 2 đất thực hiện Công trình xây dựng đường và dãy
nhà ở đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Kiên Giang. Phần đất còn lại các
bên đang tranh chấp tại thửa 15 với diện tích 842,4m 2 và thửa 14 với diện tích
1.506,9m2 hiện ông Trịnh Ngọc G đang quản lý. Các ông bà cho rằng việc lập di
chúc ngày 02/7/2007 là không hợp pháp về hình thức lẫn nội dung và ông G đã
làm trái ý chí, nguyện vọng của cha mẹ là cụ X, cụ T. Các ông, bà nguyên đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Di chúc ngày 02/7/2007 do cụ Trịnh Tấn X và cụ Nguyễn Thị T
do Di chúc không hợp pháp về hình thức và vi phạm về nội dung;
- Công nhận tòan bộ diện tích đất 15.197,94m2 tại thửa số 15, tờ bản đồ số
96 và căn nhà diện tích 216m2 trên đất tọa lạc tại A, phường B, thành phố C, tỉnh
Kiên Giang là của cụ Trịnh Tấn X và cụ Nguyễn Thị T; tòan bộ tài sản này đồng ý
giao lại cho cụ T quản lý.
- Buộc ông Trịnh Ngọc G trả lại tòan bộ tài sản hiện nay ông G đang quản lý
gồm thửa 15 với diện tích 842,4m 2 và thửa 14 với diện tích 1.506,9m 2, tổng
cộng là 2.349,34m 2 tọa lạc tại A, phường B, thành phố C, tỉnh Kiên Giang cho cụ
Nguyễn Thị T và các đồng thừa kế;
- Yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trịnh Tấn X cho những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật gồm 10 người cụ thể:
+ Bồi thường đất đai: 2.012.142.500 đồng. Tòan bộ số tiền được chia đồng ý
giao lại cho cụ T quản lý.
+ Yêu cầu chia cho cụ T 1/3 số tiền hỗ trợ đất đai là 749.805.000 đồng và
bồi thường cây trồng hoa màu là 26.792.000 đồng.
+ Không yêu cầu chia tiền bồi thường vật kiến trúc đối với số tiền
1.535.247.500 đồng. Đồng ý giao tòan bộ số tiền bồi thường này cho bà N.
- Bà N Thi Tran (Trịnh Thị N) trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của
ông H. Ngòai ra, những yêu cầu tại đơn khởi kiện nêu trên bà còn có yêu cầu
độc lập như sau: Năm 1995 bà gửi tiền về cho cha m ẹ bà là cụ Nguyễn Thị T và
cụ Trịnh Tấn X xây dựng nhà trên thửa đất số 15, tờ bản đồ số 96, diện tích
15.197,94m2 và căn nhà diện tích 216m2 trên đất tọa lạc tại A, phường B, thành phố
C, tỉnh Kiên Giang do em trai bà là ông Trịnh Ngọc G đang sinh sống, q uản lý.
Hiện nay thửa đất này đã bị nhà nước thu hồi theo quyết định số 700/QĐ -UBND
ngày 15/12/2017 của UBND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang với diện tịch bị
thu hồi là 1.669,94m2 và được bồi thường theo quyết định số 640/QĐ-UBND ngày
18/12/2017 của UB ND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Trong đó: bồi
thường đất là 2.012.142.500 đồng và vật kiến trúc là 1.535.247.500 đồng. Đối với
các phần đất mà ông G đã chuyển nhượng cho bà N, bà N thì các ông, bà không
tranh chấp.
Nay bà yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trịnh Tấn X là ông Trịnh
Ngọc G, Trịnh Văn B, Trịnh Thị Đ, Nguyễn Thị T, Trịnh Thị S, Trịnh Ngọc G,
Trịnh Thị M, Trịnh Văn H, Trịnh Văn C trả cho bà số tiền xây dựng nhà là
1.535.247.500 đồng.
- Bà Trần Thị Thanh T là người đại diện theo ủy quy ền của ông Trịnh
Ngọc G và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày : Nguồn gốc diện
tích đất khỏang hơn 12.000 m2 thuộc thửa số 15, tờ bản đồ số 96 tọa lạc tại số A,
phường B, thành phố C, Kiên Giang có nguồn gốc do cha mẹ của ông G là cụ
Trịnh Tấn X sinh năm 1926 ( cụ X chết năm 2010) và cụ Nguyễn Thị T tạo lập.
Đến năm 1990 thì cha mẹ giao lại cho ông G trực tiếp sử dụng canh tác phần đất
này. Năm 2010 cụ Trịnh Tấn X chết có để lại tờ di chúc ngày 02/07/2007 với
nội dung để lại tòan bộ phần đất trên cho ông G. Di chúc có chữ ký và dấu lăn
tay của cụ Nguyễn Thị T.
Trong quá trình sử dụng đất ông G có chuyển nhượng cho chị Trịnh
Mộng N diện tích khỏang 819m 2(ngang 18m, dài 45m), chuyển nhượng cho bà
Trần Thị Bích N diện tích 1.820m 2(ngang 20m, dà i 90,93m) và chuyển nhượng
cho những người khác khỏang 926m 2 (những lần chuyển nhượng này đều có sự
đồng ý của cụ T), nhà nước thu hồi 1.669,94 m 2 đất thực hiện Công trình xây
dựng đường và dãy nhà ở đường A, phường B, thành phố C. Phần đất còn lại các
bên đang tranh chấp tại thửa 15 với diện tích 842,4m 2 và thửa 14 với diện tích
1.506,9m2 hiện do ông G đang quản lý. Đối với căn nhà diện tích 216m2 trên đất
tọa lạc tại A, phường B, thành phố C, tỉnh Kiên Giang thì bà có nghe nói là do tiền
của bà N gửi về cất cho cha mẹ.
Nay ông G, bà T không đồng ý với các yêu cầu của nguyên đơn, vì phần
đất này ông G đã được cha mẹ cho theo tờ di chúc ngày 02/07/2007 và ông bà
cũng không có mượn tiền của bà Trịnh Thị N nên cũng không đồng ý trả tiền cất
nhà cho bà N.
- Bà Trịnh Thị Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án
nhưng không đến Tòa án nên không có ý kiến trình bày.
- Bà Trần Thị M (vợ ông B) và ông Trịnh Văn B trình bày: Khi cha còn
sống thì cha mẹ có cho ông B 08 công đất ở huyện A, tỉnh Minh Hải (cũ). Sau
đó, vợ chồng ông bà đã bán để lấy tiền mua đấ ở địa chỉ A, phường B, thành phố
C, tỉnh Kiên Giang. Nay ông bà không có ý liên quan gì, tranh chấp cũng như
không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 15 với diện tích 842,4m 2 và thửa 14 với
diện tích 1506,9m2 hiện ông Trịnh Ngọc G đang quản lý. Đồng thời anh chị
cũng không đồng ý theo yêu cầu của bà N.
- Chị Trịnh Mộng N trình bày: Vào năm 2016 chị có mua 01 phần đất
diện tích là 819m 2 của là ông Trịnh Ngọc G là chú ruột. Khi mua bán chỉ làm
giấy tay có vợ chồng và các con của ông G ký tên đồng ý và có sự đồng ý của bà
nội và 02 người cô. Từ khi mua bán cho đến nay các bên không xảy ra tranh
chấp gì.
- Chị Trần Thị Bích N trình bày: Tháng 2/2017 chị có mua của ông Trịnh
Ngọc G diện tích đất 1.934m 2. Khi mua bán thì đất chưa được cấp giấy nhưng
không có ai tranh chấp gì. Việc chị mua đất là ngay tình và chị không tranh chấp
với ai.
- Ban bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư thành phố
Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trình bày: Hiện nay Ban bồi t hường giải phóng mặt
bằng và hỗ trợ tái định cư thành phố Rạch Giá chưa thực hiện và đồng thời
ngừng việc chi trả số tiền 4.338.995.000 đồng theo quyết định số 640/QĐ –
UBND ngày 18/12/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trịnh Ngọc G
đang là tài sản t ranh chấp trong vụ án dân sự do TAND tỉnh Kiên Giang thụ lý
ngày 09/7/2018 cho đến khi có bản án, quyết định hiệu lực của tòa hoặc đương
sự có văn bản thỏa thuận việc nhận tiền bồi thường. Số tiền chi trả theo quyết
định 640/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 hiện ch ủ đầu tư chưa chuyển về tài khỏan
chi trả của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư thành phố
Rạch Giá tại Kho bạc tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là ông
Trịnh Văn H yêu cầu hủy di chúc của cụ X và cụ T lập năm 2007, chia thừa kế
phần di sản của cụ X và thống nhất giao phần di sản được chia của ông H, bà S,
bà M, ông C, ông G cho cụ T; buộc vợ chồng ông G và bà T trả lại cho cụ T
phần diện tích đất còn lại mà ông G, bà T đang quản lý. Rút yêu cầu khởi kiện
chia thừa kế đối với tiền bồi thường vật kiến trúc và thống nhất trả cho bà N giá
trị bồi thường căn nhà bị giải tỏa.
Tại bản án số 28/2020/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 20 20 của Tòa án
nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử:
- Áp dụng Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng các Điều 634, 635, Điều 652, Điều 663, 674, 675, 676, 685,
688, 689 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 166, 611, 612, 613, 620, 623, 650,
651, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 100, 101, 167, 203 Luật đất đai
năm 2013;
- Áp dụng khỏan 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 26,
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ mộ t phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Cụ Nguyễn
Thị T, bà Trịnh Thị S, ông Trịnh Văn G, ông Trịnh Văn C, bà Trịnh Thị M, ông
Trịnh Văn H về việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tiền bồi thường vật kiến
trúc đối với số tiền 1.535.247.500 đồng
2. C hấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cụ Nguyễn Thị T, bà
Trịnh Thị S, ông Trịnh Văn G, ông Trịnh Văn C, bà Trịnh Thị M, ông Trịnh
Văn H và bà N Thi Tran (Trịnh Thị N) về việc tranh chấp yêu cầu hủy di chúc,
tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế QSD đ ất và tài sản gắn liền với đất với bị
đơn ông Trịnh Ngọc G.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà N Thi Tran (Trịnh Thị N) về việc
đòi tài sản.
3. Công nhận tài sản chung của cụ Trịnh Tấn X và cụ Nguyễn Thị T gồm:
Tiền bồi thường đất đai 2.012.142.500 đồng, tiền bồi thường vật kiến trúc
1.535.247.500 đồng, diện tích đất 842,4m 2 tại thửa 15 sau khi trừ diện tích đất
mộ 79,4m 2 còn lại là 763m 2 (có giá trị 2.556.813.000 đồng) và diện tích đất
1.506,9m2 tại thửa 14 (có giá trị 5.560.461 đồng) tọa lạc tại số A, Khu phố B,
phường C, TP. D, Kiên Giang (theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 1064 -2019
(14+15-96) ngày 29/10/2019 kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
29/01/2019).
Cụ X và cụ T mỗi người được sở hữu, sử dụng ½ tài sản chung nêu trên.
4. Tuyên bố tờ di chúc của cụ Nguyễn Thị T và cụ Trịnh Tấn X lập ngày
02/7/2007 là di chúc không hợp pháp.
5. Xác định di sản của cụ Trịnh Tấn X gồm: Tiền bồi thường đất đai
1.006.071.250 đồng, bồi thường vật kiến trúc 767.623.750 đồng, Thửa 15 với
diện tích đất 381,5m 2 (có giá trị 1.278.406.500 đồng) và thửa 14 với diện tích
753,45m2 (có giá trị 2.780.230.500 đồng) tọa lạc tại số A, Khu phố B, phường
C, TP.D, Kiên Giang). Tổng giá trị tài sản là 5.832.331.975 đồng.
Di sản của cụ X được chia theo pháp luật.
6. Hàng thừa kế của cụ X: hàng thừa kế của cụ X gồm 10 người: Cụ
Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn H, bà Trịnh Thị S, ông Trịnh Ngọc G, bà Trịnh
Thị M, bà N Thi Tran (tên gọi khác Trịnh Thị N), ông Trịnh Văn C, Trịnh Văn
B, Trịnh Thị Đ và ông Trịnh Ngọc G.
Ông Trịnh Văn B không yêu cầu được chia tài sản nên không chia thừa kế
cho ông B. Kỷ phần thừa kế gồm 09 kỷ phần.
Ghi nhận sự nguyện của ông Trịnh Văn H, bà Trịnh Thị S, bà Trịnh Ngọc
G, bà Trịnh Thị M, bà N Thi Tran (tên gọi khác Trịnh Thị N), ông Trịnh Văn C
không nhận phần di sản được chia đối với quyền sử dụng đất và tiền bồi hòan
quyền sử dụng đất mà giao tòan bộ cho cụ Nguyễn Thị T.
Ghi nhận sự nguyện của cụ Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn H, bà Trịnh Thị
S, ông Trịnh Ngọc G, bà Trịnh Thị M, ông Trịnh Văn C không nhận phần di sản
được chia đối với tiền bồi thường vật kiến trúc mà giao cho bà N Thi Tran
(Trịnh Thị N). Đồng thời cụ Nguyễn Thị T tự nguyện trả số tiền bồi thường vật
kiến trúc 767.623.750 đồng cho bà N.
7. Chia di sản thừa kế của cụ Trịnh Tấn X như sau:
Chia cho cụ Nguyễn Thị T số tiền bồi thường đất là 782.499.862 đồng,
diện tích đất là 882,75m 2 (tương đương giá trị là 3.156.447.668 đồng) tọa lạc tại
A, phường B, thành phố C, tỉnh Kiên Giang.
Chia cho ông Trịnh Ngọc G tiền bồi thường đất 111.785 .694 đồng, giá trị
126,10m2 đất là 450.956.666 đồng, tiền bồi thường vật kiến trúc là 85.291.527
đồng. Tổng cộng 648.033.887 đồng.
Chia cho bà Trịnh Thị Đ tiền bồi thường đất 111.785.694 đồng, giá trị
126,10m2 đất là 450.956.666 đồng, tiền bồi thường vật k iến trúc là 85.291.527
đồng. Tổng cộng 648.033.887 đồng.
8. Tiền hỗ trợ đất đai: 749.805.000 đồng và bồi thường cây trồng hoa màu là
26.792.000 đồng, tổng cộng là 776.597.000 đồng chia làm 03 phần cho cụ
Nguyễn Thị T, ông Trịnh Ngọc G và bà Trần Thị Thanh T. Mỗi người được
nhận là 258.865.600 đồng.
Ông G được nhận số tiền 15.008.000 đồng tiền hỗ trợ khác và 02 nền tái
định cư theo Quyết định số 640/QĐ -UBND ngày 18/12/2017 của UBND Thành
phố Rạch Giá bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trịnh Ngọc G.
9. Trả lại cho bà N Thi Tran (Trịnh Thị N) tiền bồi thường vật kiến trúc là
1.364.664.446 đồng .
10. Giao cho cụ Nguyễn Thị T số tiền 4.338.995.000 đồng theo Quyết
định số 640/QĐ -UBND ngày 18/12/2017 của UBND Thành phố Rạch Giá bồi
thường, hỗ trợ cho hộ ông Trịnh Ngọc G. Số tiền 4.338.995.000 đồng bồi thường,
hỗ trợ theo Quyết định số 640/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 của UBND Thành phố
Rạch Giá do Ban bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư Thành
phố Rạch Giá có trách nhiệm chi trả cho cụ T.
Buộc ông Trịnh Ngọc G và bà Trần Thị Thanh T giao thửa đất số 15 với
diện tích 842,4m2(trong đó có 79,4m 2 diện tích đất mộ) có hình 6,7,8,9,10,11 và
thửa đất số 14 với diện tích 1.506,9m 2 có hình 1,2,3,4,5 tọa lạc tại A, khu phố B,
phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 1064-
2019 (14+15-96) ngày 29/10/2019. Đồng thời giao tài sản gắn liền trên đất gồm: 01
căn nhà có chiều ngang trước 4,5m, chiều ngang sau 4,4m, chiều dài nhà chính
13,5m (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2020 ) và căn nhà tạm
trên đất có chiều ngang 7,8m, chiều dài 11,8m (theo biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 29/01/2019) cho cụ Nguyễn Thị T quản lý, sử dụng. Cụ T có trách nhiệm
liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất.
11. Cụ Nguyễn Thị T có nghĩa vụ :
- Trả cho ông Trịnh Ngọc G số tiền là 921.910.283 đồng (chín trăm hai
mươi mốt triệu chín trăm mười nghìn hai trăm tám mươi ba đồng).
- Trả cho bà Trịnh Thị Đ số tiền là 648.033.887 đồng (sáu trăm bốn mươi
tám triệu không trăm ba mươi ba nghìn tám trăm tám mươi bảy đồng).
- Trả cho bà N Thi Tran (Trịnh Thị Ngọc) số tiền là 1.364.664.446 đồng
(một tỷ ba trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm bốn
mươi sáu đồng).
- Trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền là 258.865.666 đồng (hai trăm năm
mươi tám triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
- Trả cho vợ chồng ông Trịnh Ngọc G, bà Trần Thị Thanh T số tiền bồi
hòan công trình xây dựng trên đất là 213.940.000 đồng (hai trăm mười ba triệu
chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ngòai ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo.
Ngày 06/10/2020, bà T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm tại
mục 11 phần quyết định bản án sơ thẩm. Bà không đồng ý về nội dung án sơ
thẩm buộc bà T có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông G, bà T số tiền bồi hòan
công trình trên đất là 213.940.000đ, đề nghị sửa án sơ thẩm về nội dung này.
Ngày 09/10/2020, ông G, bà T có đơn kháng cáo. Ông G kháng cáo tòan
bộ bản án sơ thẩm và cho rằng: Di chúc của cụ X và cụ T là di chúc chung của
vợ chồng, cụ X chết năm 2010, cụ T còn sống nên căn cứ Điều 668 BLDS năm
2005 thì di chúc này chưa có hiệu lực nên các đồng nguyên đơn yêu cầu hủy di
chúc là chưa đủ điều kiện khởi kiện; cấp sơ thẩm xét xử ngòai phạm vi khởi kiện
của nguyên đơn, cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu hủy di chúc nhưng cấp sơ thẩm lại
tuyên di chúc không hợp pháp. Cấp sơ thẩm chỉ chia diện tích 2.349,3m 2 đất tại
thửa 14, 15, tờ bản đồ 96, còn diện tích còn lại trong diện tích đo thực tế là
12.443,54m2 cấp sơ thẩm không giải quyết theo yêu cầu của các đương sự, trong
đó có ông G, không xem xét công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế theo án lệ
số 05/2016/AL. Số tiền bồi thường vật kiến trúc là 1.535.247.500đ cấp sơ thẩm
đã đình chỉ giải quyết trong bản án nên số tiền nà y thuộc về hộ ông G nhưng cấp
sơ thẩm lại chia số tiền này cho cụ T là 767.623.750đ, chia cho 9 kỷ phần thừa
kế còn lại mỗi kỷ phần là 85.291.527đ; Cấp sơ thẩm không đưa người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan là các con của ông là các thành viên trong hộ và o tham
gia tố tụng vì theo quyết định bồi thường là bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu
hồi đất theo quyết định số 646 tất cả các nhân khẩu trong hộ ông G gồm bà T,
vợ chồng ông G và Trình Ngọc N sinh năn 1997, Trịnh Thị D sinh năm 1998 và
Quảng Trọng Thiên A sinh năm 2016. Ngòai ra không đưa Trịnh Tấn A là người
sử dụng 2.430m 2 đất trong tổng diện tích 12.443,54m 2, không đưa bà Võ Thị T
là người đang thuê nhà vào tham gia tố tụng; cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ
không tòan diện, khách quan, không xem xét công sức người quản lý di sản thừa
kế là ông G. Ông G đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Bà T kháng cáo yêu cầu được xem xét công sức quản lý, cải tạo đối với
diện tích đất và nhà tranh chấp mà bà sử dụng, quản lý từ năm 1995 đến nay.
Tại phiên tòa hôm nay, ông H, bà N đại diện những người kháng cáo vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Trong phần tranh luận, các bên trình bày như sau:
Luật sư Long trình bày: Bà T kháng cáo không đồng ý trả cho ông G, bà T
213,9 triệu đồng giá trị căn nhà vì ông G xây nhà khi đã có tranh chấp, bà T
không có như cầu sử dụng căn nhà này. Năm 2017 hộ ông G chỉ có vợ chồng
ông G và cụ T, không có các con ông G. Về công sức đóng góp thì bên ông G đã
tự ý bán 3.000m2 đất của cụ T nên không xem xét công sức cho vợ chồng ông G.
Ông H đồng ý với ý kiến Luật sư.
Luật sư Bảo trình bày: đề nghị hủy án sơ thẩm vì vi phạm tố tụng, di chúc
chưa có hiệu lực vì bà T chưa chết nhưng tòa xem xét di chúc , hộ ông G có 6
người nên mới được 2 nền tái định cự, quyết định bồi thường là bồi thườ ng cho
hộ nhưng cấp sơ thẩm không đưa các thành viên trong hộ ông G vào tham gia tố
tụng, không chia hết di sản, không xem xét công sức của vợ chồng ông G trong
việc quản lý giữ gìn tôn tạo di sản, cụ X mua đất trước kia là đất nông nghiệp,
nay có đất ở nê n có công sức của vợ chồng ông G, không chia cho ông G đất là
không hợp lý.
Bà N đồng ý với Luật sư, đề nghị hủy án sơ thẩm.
Bà N đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Cấp phúc thẩm và các đương sự thực hiện đúng các quy định
về tố tụng,
Về nội dung kháng cáo:
- Về kháng cáo của ông G, bà T: Cụ T không biết chữ nên di chúc phải có
người làm chứng. Tờ di chúc có 2 người làm chứng nhưng người làm chứng thứ
hai không chứng kiến tại thời điểm l ập di chúc, phần đất ông G đã chuyển
nhượng thì các nguyên đơn không tranh chấp, hai thửa đất số 14, 15 do bị đơn
quản lý có nguồn gốc do cụ X và cụ T tạo lập, do đó hàng thừa kế của cụ X
được thừa kế theo pháp luật. Tòa sơ thẩm không đưa bà D, T, cháu A vào tham
gia tố tụng là đúng vì họ không có quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án này.
Kháng cáo của ông G, bà T là không có căn cứ.
- Về kháng cáo của cụ T: Khi ông G, bà T xây nhà cụ T không phản đối
nên án sơ thẩm buộc cụ T trả lại giá trị nhà là có căn cứ.
Đề nghị bác kháng cáo của ông G, bà T và Cụ T; giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]- Các đương sự tra nh chấp tòan bộ tài sản hiện nay ông G đang quản lý
gồm: Thửa 15 với diện tích 842,4m 2 và thửa 14 với diện tích 1.506,9m 2, tổng
cộng là 2.349,3m 2 tọa lạc tại A, phường B, thành phố C; tranh chấp số tiền b ồi
thường đất đai: 2.012.142.500 đồng, số tiền hỗ trợ đất đai là 749.805.000 đồng, tiền
bồi thường cây trồng hoa màu là 26.792.000 đồng, tiền bồi thường vật kiến trúc đối
với số tiền 1.535.247.500 đồng.
Các nguyên đơn cho rằng số tài sản trên là của bà T và di sản của ông X
chồng bà T đã chết, đồng thời yêu cầy hủy di chúc của vợ chồng bà T, yêu cầu
ông G trả lại tòan bộ diện tích đất trên và giao cho bà T sử dụng, chia thừa kế di
sản của ông X theo pháp luật, rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bồi thường
nhà 1.535.247.500 đồng và đồng ý trả bà N số tiền này.
Bị đơn ông G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T cho rằng
tòan bộ tài sản nhà, đất trên là của ông G được thừa kế theo di chúc của vợ
chồng bà T, ông X, số tiền bồi thường nhà đất và tiền hỗ trợ khi nhà nước thu
hồi đất là của hộ ông G gồm bà T, ông G, bà T và các con cháu là bà N, bà D và
cháu A.
Bà N yêu cầu trả bà 1.535.247.500 đồng tiền nhà nước bồi thường nhà bị
thu hồi.
Xét kháng cáo của các đương sự thì thấy:
[2]- Diện tích 2.349,3m 2 tọa lạc tại A hiện nay chưa được cấp giấy chứng
nhận QSDĐ, có nguồn gốc là của vợ chồng ông X, bà T tạo lập, nhà trên đất do vợ
chồng bà T xây dựng, điều này được các đương sự thừa nhận.
Do vợ chồng ông X già yếu nên thực tế quá trình sử dụng, quản lý nhà, đất
chủ yếu do vợ chồng ông G thực hiện, sau khi ông X chết thì việc quản lý, tôn tạo
nhà đất trên chủ yếu do vợ chồng ông G thực hiện, do đó vợ chồng ông G thực tế
có công sức quản lý, bảo quản di sản. Khi giải quyết yêu cầu chia thừa kế cũng như
yêu cầu ông G trả lại tài sản nhà đất trên thì phải xem xét công sức quản lý, giữ gìn,
duy trì, tôn tạo khối tài sản là nhà đất trên của ông G, bà T. Tại phiên tòa sơ thẩm,
bà T chỉ trình bày vợ chồng bà không cải tạo, trồng trọt chăn nuôi trên đất (BL:
416), không có lời trình bày nào của bà T, ông G về việc ông bà không yêu cầu
xem xét công sức quản lý, giữ gìn, duy trì, tôn tạo khối tài sản là nhà đất trên, trong
đó có di sản của ông X. Cấp sơ thẩm không xem xét để tính công sức quản lý, giữ
gìn nhà, đất trên khi giải quyết yêu cầu của các nguyên đơn là chưa phù hợp, không
xem xét đầy đủ quyền lợi hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng đến quyền lợi của
ông G, bà T là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Nay ông G và bà T cùng kháng cáo yêu cầu xem xét công sức của ông bà
trong việc quản lý giữ gìn, duy trì nhà đất trên là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên,
do cấp sơ thẩm chưa giải quyết nội dung này nên cấp phúc thẩm chưa có căn cứ để
xem xét nội dung này.
[3]- Tại Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trịnh Ngọc G số 640/QĐ-
UBND ngày 18/12/2017 của UBND thành phố Rạch G (BL: 239) có nội dung: Bồi
thường cho hộ ông Trịnh Ngọc G tổng số tiền là 4.338.995.000đ.
Như vậy, quyết định bồi thường, hỗ trợ trên có liên quan đến quyền lợi của
các thành viên trong hộ ông G trong việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà thu hồi đất. Hồ
sơ vụ án thể hiện hộ khẩu của hộ ông G có bà N, bà D và cháu A (BL: 446-450).
Cấp sơ thẩm khi giải quyết chia số tiền bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị N nhưng không đưa đầy đủ
các thành viên trong hộ ông G tại thời điểm bồi thường vào tham gia tố tụng là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng quyền lợi của họ.
[4]- Các thiếu sót, vi phạm trên là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi
của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, chấp nhận
một phần kháng cáo của bà T, ông G và bà T; hủy tòan bộ bản án sơ thẩm; chuyển
hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.
[3]- Bà T, ông G, bà T không phải chịu án phí phúc thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khỏan 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các đương sự: Bà Trần Thị
Thanh T, ông Trịnh Ngọc G và bà Nguyễn Thị T.
Hủy tòan bộ bản án sơ thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm
2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân
dân tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án
2- Về án phí phúc thẩm: Ông G, bà T, bà T không phải chịu. Hòan trả cho
bà T 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 9409 ngày
20/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Nơi nhận:
Tòa án nhân dân tối cao (1);
VKSNDCC tại thành phố Hồ Chí Minh (1);
TAND tỉnh Kiên Giang (1);
VKSND tỉnh Kiên Giang (1);
Cục THADS tỉnh Kiên Giang (1);
Các đương sự;
Lưu: hồ sơ (1),VP(3) (07);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa
(đã ký)
Nguyễn Văn Hùng
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
