Bản án số 182/2025/DS-PT
📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý
| Mã số Án lệ | Án lệ số 03/2016/AL |
| Ngày thông qua | 2025-04-22 |
| Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao |
| Lĩnh vực xét xử | Dân sự |
| Nguồn trích xuất gốc | Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao |
💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)
“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”
📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số 182/2025/DS-PT
Ngày 22/4/2025
V/v yêu cầu chia di sản thừa kế,
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Việt Hà;
Ông Ong Thân Thắng.
- Thư ký phiên tòa : Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 597/2024/TLPT-DS ngày 20
tháng 11 năm 2024 về việc “Yêu cầu chia di sản thừa kế, hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ
thẩm số 139/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3343/2025/QĐPT-DS
ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh S, sinh năm 19 55; địa chỉ: thôn Ước
Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trịnh Thị
H – Công ty luật TNHH Hiệp Thành, Đòan luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 19 50; địa chỉ: thôn Ước Thành, xã
Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1990;
địa chỉ: thôn Tân Đắc, xã Quản g Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa;
địa chỉ liên hệ: số 117 Dương Đình Nghệ, phường Tân Sơn, thành phố Thanh
Hóa, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Văn N, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh,
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
2. Ông Nguyễn Mạnh Ch, sinh năm 1963; địa chỉ: số 22/7 Hạ Long, phường
2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn 3, xã Quảng Nhân,
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
4. UBND xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ: xã
Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Người đại diện theo ủy
quyền: Ông Lữ Trọng Ch1 – Phó chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.
5. UBND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa ; địa chỉ: đường Phạm Tiến
Năng, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, và
lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn
Mạnh S trình bày:
Bố tôi là ông Nguyễn Văn X (chết năm 1989) mẹ tôi là bà Nguyễn Thị X1
(chết năm 2010) sinh được 04 người con gồm: bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn
Mạnh S, ông Nguyễn Mạnh Ch và bà Nguyễn Thị T1. Ngòai ra, bố mẹ tôi không
còn con chung, con riêng và con nuôi nào khác.
Trước khi chết, bố mẹ tôi tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng thửa
đất số 233, tờ bản đồ số 2 , bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 1992 (nay là thửa
đất số 43, tờ bản đồ số 8, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 2014), địa chỉ: t hôn
Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Bố mẹ tôi chết đều không để lại di chúc, sau khi bố mẹ chết, bà Nguyễn Thị
T là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với tòan bộ diện tíc h đất có thông tin
nêu trên. Đến nay tôi phát hiện năm 1982 bà T đã tự ý kê khai cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 2 ,
bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 1992 của bố mẹ để lại và đã được cấp
GCNQSDĐ, đến năm 2017 bà T tặng cho con trai là anh Lê Văn N tòan bộ thửa
đất mà không được sự đồng ý của tôi và những người thừa kế khác là xâm phạm
nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi và những người đồng thừa
kế theo quy định của pháp luật. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án giải quyết các nội
dung sau:
- Hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và GCNQSDĐ số CI 573272 và o sổ cấp
GCN số CH-01076 do UBND huyện Quảng Xương cấp ngày 27/6/2017 mang
tên Lê Văn N đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 2, bản đồ địa chính xã Quảng
Ninh 1992 (nay là thửa đất số 43, tờ bản đồ số 8 , bản đồ địa chính xã Quảng
Ninh 2014), địa chỉ: thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hóa;
- Phân chia di sản thừa kế của bố mẹ t ôi để lại là thửa đất số 233, tờ bản đồ
số 8, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 2014), địa chỉ: thôn Ước Thành, xã Quảng
Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; khối di sản tạm tính 400.000đ/m 2
đất ở, 17.000đ/m2 đất trồng cây hàng năm, tạm tính giá trị 91.611.000 đồng.
- Bị đơn là bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bà T
trình bày:
Bà T thống nhất với lời khai của ông S về thời điểm bố mẹ chết và các anh
chị em ruột trong gia đình.
Về nguồn g ốc diện tích đ ất đang tranh ch ấp: Thời điểm trước năm 1975
trong thời kỳ chiến tranh nên đ ất rộng và dân cư thưa thớt, đ ể tránh bom đạn
chiến tranh gia đình bà và những gia đình khác luôn tìm chỗ đất hoang sơ tán để
tránh bom đạn. Bà đã sinh sống trên thửa đất từ trước những năm 1980, ổn định
và không có tranh chấp nên nă m 1994 bà được cấp GCNQSDĐ theo đúng quy
định của pháp luật. Đến năm 2017, bà tặng cho anh Lê Văn N là con trai bà tòan
bộ thửa đất, anh N đã được UBND huyện Quảng Xương cấp GCNQSDĐ ngày
27/6/2027.
Đến nay ông Nguyễn Mạnh S cho rằng thửa đất là của b ố mẹ và yêu cầu
chia di sản thừa kế là không đúng vì ông S không có b ất kỳ giấy tờ gì chứng
minh đất là của bố mẹ (ông X, bà X1) để lại. Theo đơn khởi kiện của nguyên
đơn thì ông X chết năm 1989 đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế theo quy định
tại khỏan 1 Điều 623 B ộ luật Dân sự, nhưng nguyên đơn vẫn khởi kiện yêu cầu
chia thừa kế. Bà X1 không ở trên thửa đất với bà T mà ở với ông S trên một thửa
đất khác (cùng thôn), bà X1 chỉ thỉnh thỏang đến chơi và ở lại ít hôm với bà T
rồi về nhà ông S. Bà X1 ở với ông S đến lúc chết, ông S thờ cúng bố mẹ tại nhà
ông S.
Ông S có đơn đề nghị UBND xã Quảng Ninh xác nhận nguồn gốc thửa đất
số 233, tờ bản đồ số 2, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 1992 (nay là thửa đất số
43, tờ bản đồ s ố 8, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 2014 đứng tên bà Nguyễn
Thị T) do ông X, bà X1 để lại. Ngày 30/6/2022, UBND xã Quảng Ninh ban
hành Công văn số 15/U BND về việc xác định nguồn gốc đất của bà T do ông
Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị X1 để lại, việc ban hành công văn của UBND xã
Quảng Ninh là trái pháp luật vì các lý do:
- Bà T sử dụng đất từ trước năm 1980, ổn định, lâu dài, không có tranh
chấp, đã được cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định của pháp luật.
- Bố mẹ bà T khi còn sống không ở trên thửa đất tranh chấp, trước khi chết
bố mẹ đã để lại thửa đất khác cho ông S, ông S đã bán đi và mua mảnh đất hiện
nay đang ở. Ông X, bà X1 ở với ông S đến lúc chết và đang được thờ cúng tại
nhà ông S.
- Công văn số 15 của UBND xã Quảng Ninh về việc lấy ý kiến khu dân cư
là trái pháp luật. Việc lấy ý kiến khu dân cư chỉ khi không có giấy tờ về nguồn
gốc đất. Tuy nhiên Bản đồ 299 và sổ mục kê (nguồn gốc đất) đều thể hiện tên bà
Nguyễn Thị T, vì vậy theo quy định tại khỏan 4 Điều 21 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP.
- Về trình tự, thủ tục lấy ý kiến khu dân cư phải lập phiếu lấy ý kiến theo
mẫu số 05/ĐK kèm theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, nội dung cuộc họp
phải có xác nhận về nguồn gốc sử dụng thửa đất, thời điểm bắt đầu sử dụng, tình
trạng tranh chấp đất đai… Tuy nhiên, UBND xã Quảng Ninh không có văn bản
về việc lập phiếu lấy ý kiến khu dân cư, không nê u rõ lý do, mục đích sử dụng…
mà vội vàng kết luận là xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T. Bà T
không hề nhận được văn bản nà o về việc lấy ý kiến của khu dân cư cũng như
Công văn số 15 của UBND xã Quảng Ninh.
- Công văn số 15 của xã Quảng Ninh đánh giá phiến diện, không dựa trên
chứng cứ pháp lý là giấy tờ nhà đất mà lấy ý kiến dựa trên ý chí chủ quan của
những người tham gia, k hông có căn cứ pháp luật, không có chứng cứ chứng
minh nguồn gốc đất là của ông X, bà X1.
Đề nghị Tòa án không chấp nhận các nội dung khởi kiện của ông S; Hủy
Công v ăn số 15/UBND ngày 27/6/2022 của UBND xã Quảng Ninh, huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. UBND huyện Quảng Xương: Tại Văn bản số 1145/UBND-TNMT ngày
13/4/2023 UBND huyện Quảng Xương đã bàn giao tòan bộ hệ thống tài liệu cấp
GCNQSDĐ cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Quảng Xương. Đề
nghị Tòa án liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đ ăng ký đất đai huyện Quảng
Xương để được cung cấp thông tin hồ sơ và căn cứ vào hồ sơ, tài liệu thu thập
được để giải quyết theo quy định.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Quảng Xương đã cung cấp Hồ
sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Lê V ăn N; hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất
của ông Lê Văn N chuyển đất trồng cây lâu năm thành đất ở cho Tòa án.
2. UBND xã Quảng Ninh: Tại Văn bản số 22/UBND ngày 10/4/2023: Căn
cứ Điều 100 Luật đất đai 2013 thì bà Nguyễn Thị T có tên trong Sổ đ ăng ký
ruộng đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 2 , bản đồ địa chính xã Quảng Ninh
1992 (bà T có một trong các lọai giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai). Bà T
được UBND huyện Quảng Xương cấp GCNQSDĐ số D 0880652 ngày
10/8/1993, số vào sổ cấp giấy 00056/102 tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 2 , bản
đồ địa chính xã Quảng Ninh 1992, diện tích 900m 2, trong đó đất ở 200m 2, đất
vườn 700m2, đến năm 2017 bà Nguyễn Thị T tặng cho tòan bộ thửa đất số 233, tờ
bản đồ số 2, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 1992 (nay là thửa số 43, tờ bản đồ
số 8, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 2014) cho anh Lê Văn N theo GCNQSDĐ
số CI 573272 do UBND huyện Quảng Xương cấp ngày 27/6/2017.
Ngòai ra, UBND xã Quảng Ninh cung cấp cho Tòa á n bản đồ, sổ mục kê
đối với thửa đất tranh chấp qua các thời kỳ đo đạc của địa phương.
3. Bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Thứ nhất: Tôi khẳng định chị gái tôi Nguyễn Thị Tòan đã ở trên thửa đất có
địa chỉ tại thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh
Hóa từ trước những năm 1980 ổn định lâu dài, không có tranh chấp đất với anh,
em trong gia đình và cũng như các hộ gia đình sống liền kề, xung quanh. N ăm
1993, bà T được UBND huyện Quảng Xương cấp GCNQSDĐ đứng tên Nguyễn
Thị T. Năm 2017, bà T tặng cho lại tòan bộ quyền sử dụng đất n êu trên cho con
trai là cháu Lê Văn N, cháu N cũng đã được UBND huyện Quảng Xương cấp
GCNQSDĐ số CI 573272 ngày 27/06/2017. Quá trình cấp GCNQSDĐ cho bà T
và cháu N được niêm yết công khai tại UBND xã Quảng Ninh và Nhà văn hóa
thôn Ước Thành, lấy ý kiến giáp ranh các hộ liền kề.
Việc cấp GCNQSDĐ cho cháu N năm 2017, sau đó cháu N chuyển đổi
sang tòan bộ đất ở, tôi và các anh em trong gia đình đều biết. Chính quyền xã
gồm Chủ tịch UBND xã Quảng N inh, địa chính xã Quảng Ninh, Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất huyện Quảng Xương, UBND huyện Quảng Xương
cũng xuống đám đất của chị gái tôi để trích đo, đo đạc lại diện tích đất sử dụng
rất nhiều lần (kể từ trước năm 2017 cho đến nay). Tòan bộ quá trình đo đạc,
chuyển đổi tòan bộ thửa đất công khai và người dân trong xã ai cũng biết và cả
tôi và anh em trong gia đình đều biết.
Quá trình làm hồ sơ, UBND xã Quảng Ninh đã tiến hành họp dân cư và lấy
ý kiến của 14 hộ dân trong thôn Ước Thành về nguồn gốc sử dụng đất của bà T
trước thời điểm 1980. Cuộc họp lấy ý kiến của các hộ dân công khai, minh bạch
và có xác nhận của 14 hộ dân và chính quyền thôn, xã đều đồng ý nguồn gốc đất
của bà T có thời điểm sử dụng trước năm 1980 nên được công nhận tòan bộ đất
ở.
Tôi khẳng định việc cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị T, cháu Lê Văn N
là minh bạch, công khai, đúng theo quy định pháp luật, cả làng xóm, láng giềng ai
đều biết và chính tôi ở xã khác cũng biết, vì thế việc ông Nguyễn Mạnh S nói
không biết mặc dù ông S ở gần nhà bà T là không đúng thực tế.
Thứ hai: Bà T vay vốn tại Qũy tín dụng nhân dân xã Quảng Ninh từ trước
năm 2012. Sau đó, bà T tặng cho lại nhà đất cho cháu N, thì vợ chồng cháu N lại
là người đứng ra vay vốn của Qũy tín dụng để làm ăn và có thế chấp quy ền sử
dụng đất. Mỗi lần bà T hay vợ chồng cháu N vay tiền của Qũy, Qũy Tín dụng
đều cử nhân viên đến thửa đất thế chấp, xác định tình trạng của thửa đất và
người sử dụng hợp pháp sống trên đất. Quá trình các cán bộ tín dụng Qũy tín
dụng nhân dân xã Quảng Ninh , cán bộ Ngân hàng đến làm việc đều công khai,
người dân sống xung quanh nhà bà T ai cũng đều biết. Bà T và vợ chồng cháu N
có rất nhiều lần vay vốn ngân hàng từ năm 2012 đến năm 2022, đã dùng
GCNQSDĐ được cấp cho bà T, sau đó là cháu N để thế chấp cho Qũy tín dụng.
Thứ ba: Năm 2005, vợ chồng cháu N phá dỡ căn nhà ngói, xây dựng căn
nhà mái bằng với diện tích 120m 2. Quá trình xây nhà từ năm 2005 đến nay
không có bất kỳ tranh chấp khiếu nại gì của cơ quan, tổ chức , hay cá nhân nào.
Hơn nữa, hai lần gia đình bà T xây nhà, ông Nguyễn Mạnh S và tôi đều đến xây
giúp nhà cho bà T. Mỗi lần xây dựng nhà xong, gia đình chúng tôi gồm ông S,
ông Ch, bà T, tôi và các anh, em trong thợ, hàng xóm xung quanh đều đ ến liên
hoan, chia vui với gia đình bà T.
Thứ tư: Bố mẹ tôi ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị X1 trước khi chết
đã ở với ông S và chết trên đất của ông S. Tòan bộ tài sản, tiền của hai cụ đều để
lại cho ông S và có sự giúp đỡ của anh, em trong nhà để ông S mua, bán hết đám
đất này đến đám đất khác. Đến nay, giá đất tăng lên ông S có yêu cầu khởi kiện
đối với bà T để chia đất của bà T, vì cho rằng có nguồn gốc đất của bố mẹ tôi,
tôi không đồng ý. Tôi cho rằng trước khi chết bố mẹ đã lo chỗ ở ổn định cho anh
em chúng tôi, người thì ông, bà cho đất, người thì cho tiền. Anh em nên tôn
trọng ý nguyện của bố mẹ trước khi chết, không nên vì lợi ích không chính đáng
mà tranh chấp đất đai của nhau.
Bằng văn bản này, tôi có ý kiến như sau: Tôi không liên quan đến việc chia
đất của các anh, em trong gia đình. Tôi cũng không có nguyện vọng được nhận di
sản thừa kế (nếu được chia theo pháp luật) theo đơn khởi kiện của ông S. Đề nghị
Tòa án không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh S.
4. Ông Nguyễn Mạnh Ch trình bày:
Tôi là con trai của ông Nguyễn Văn X (chết năm 1980), và bà Nguyễn Thị
X1 (chết năm 2010). Tôi được bố mẹ cho ăn học, sau đó lớn lên đi bộ đội, thóat
ly khỏi địa phương và vào N làm ăn sinh sống lập nghiệp từ năm 1984 đến nay.
Khi bố, mẹ tôi còn sống, hàng năm tôi cũng thu xếp về quê thăm bố, mẹ. Đ ến
khi bổ mẹ mất những dịp giỗ tết tôi vẫn thường xuyên về quê lo giỗ tết, hương
khói cho hai cụ tại nhà của anh trai tôi là Nguyễn Mạnh S.
Từ trước đến nay, anh chị em trong gia đình chúng tôi chung sống rất hòa
thuận, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, lẫn nhau, không có bất kỳ tranh chấp gì về
đất đai của bố mẹ để lại.
Đến nay, ông Nguyễn Mạnh S yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ tôi để
lại tại thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
hiện nay bà Nguyễn Thị T và cháu Lê Văn N đang ở trên đất. Tôi có ý kiến như
sau: Tôi không liên quan đến việc chia đất đai của ông S và bà T. Tôi cũng không
có nguyện vọng được nhận di sản thừa kế của bố mẹ là ông Nguyễn Văn X, bà
Nguyễn Thị X1 để lại. Tôi từ chối nhận di sản thừa kế của ông X, bà X1 để lại,
phần di sản thừa kế của tôi được hưởng, tôi để lại cho cả hai anh chị tôi là ông
Nguyễn Mạnh S và bà Nguyễn Thị T.
Do đường xá xa xôi, tuổi cao, sức yếu tôi không thể đến Tòa vào tất cả các
buổi làm việc, hòa giải, hay xét xử tại Tòa án các cấp được.
- Người làm chứng trình bày:
1. Ông Nguyễn Văn B trình bày: Tôi có quan hệ họ hàng với bà Nguyễn
Thị T và ông Nguyễn Mạnh S, nhà tôi cách nhà bà T khỏang 30m.
Về nguồn gốc đất hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng là của cụ X và cụ
X1, năm 1989 cụ X chết, ông S mua một mảnh đất ngòai đường Quốc lộ và đưa
cụ X1 đến để ở. Ông S và cụ X1 ở được một thời gia n thì bán và mua khu đất
hiện nay ông S đang ở, cách nhà bà T khỏang 500m. Sau khi bà T đi công nhân về
và lập gia đình ở trên đất của cụ X và cụ X1. Việc mẹ con, anh em chuyển, tặng
cho nhau mảnh đất này như thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết từ khi ông S và cụ
X1 đi ở nơi khác thì bà T vẫn ở trên đất và xây dựng nhà ở ổn định không thấy
tranh chấp gì về đất đai.
Khỏang năm 2015 hoặc 2017 gì đó có làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà
T, xã có tổ chức hội nghị để xác định nguồn gốc đất, tôi cùng với 14 người dân
khác tham gia và ký vào biên bản về việc bà T sử dụng đất không có tranh chấp.
Khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà T UBND xã Quảng Ninh có niêm yết
danh sách các hộ được cấp GCNQSDĐ trong 15 ngày nhưng không có tranh chấp
gì.
Ông S và bà T ở cùng thôn, cùng đội, việc họp và nhận các thông báo của
thôn, xã đều biết cùng thời điểm.
2. Ông Nguyễn Văn D: Nhà tôi cách nhà bà T khỏang 200m. Nguồn gốc
đất hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng là của cụ X và cụ X1, sau khi cụ X chết
thì ông S có điều kiện hơn nên mua một mảnh đất khác và đưa cụ X1 đến để ở,
khi ra đất mới ông S và cụ X1 đã mang tòan bộ bàn thờ, bát hương của gia đình
ra nơi ở mới để thờ cúng còn vợ chồng con cái bà T vẫn ở lại trên đấ t của cụ X
và cụ X1 cho đến nay.
Cháu ruột tôi là Nguyễn Thị L là vợ cháu Lê Văn N (con bà T), tôi thường
xuyên đến chơi nhà bà T không thấy trong gia đình nói có việc tranh chấp về đất
đai, quan hệ giữa gia đình ông S và bà T vẫn vui vẻ, hòa thuận với nhau, khi anh
N là con bà T làm nhà, tôi, ông S1, ông S cùng trong đội thợ xây nhà cho anh N,
tôi không thấy việc ông S với bà T và anh N có tranh chấp gì về đất đai, mãi gần
đây mới xảy ra tranh chấp.
Việc bà T và anh N sử dụng đất do được tặng cho, thừa kế hay mua bán tôi
không biết. Sau khi vợ chồng N cưới nhau về ở và xây nhà kiên cố không thấy có
tranh chấp gì. Gia đình bà T làm thủ tục cấp GCNQSD đất, xã có tổ chức hội nghị để
xác định nguồn gốc đất tôi chỉ nghe nói lại nhưng không tham gia.
3. Ông Nguyễn Văn H2: Tôi không có quan hệ họ hàng với bà Nguyễn
Thị T và ông Nguyễn Mạnh S, tôi là hàng xóm, nhà tôi cách nhà bà T khỏang
300m.
Về nguồn gốc đất hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng là của cụ X và cụ
X1, từ nhỏ đến lớn tôi thấy ông S và bà T ở cùng bố mẹ trên đất, sau khi cụ X
chết thì ông S đưa cụ X1 đi ở khác, nhưng cùng thôn, cách khỏang 600m, còn
vợ chồng con cái bà T vẫn ở lại trên đất của cụ X và cụ X1 cho đến nay. Trong
gia đình có sự bàn bạc gì về đất đai như thế nào tôi không biết.
Năm 2005 anh N con bà T làm nhà tôi đến đánh hồ, khuân gạch hết buổi
làm thì ăn cơm xong về không lấy công, ông S là thợ xây còn việc ông S có lấy
công thợ của anh N hay không tôi không biết, quá trình làm nhà bà T, ông S và
anh N vui vẻ, hòa thuận không thấy có tranh chấp về đất đai, sau này tôi vẫn
thấy quan hệ cậu cháu rất tốt , mới cách đây vài năm có tranh chấp về đất đai
nhưng tôi không biết nguyên nhân.
4. Ông Đàm Văn S1: Tôi không có quan hệ họ hàng với bà Nguyễn Thị T,
chỉ là hàng xóm, nhà tôi cách nhà bà T khỏang 300m.
Về nguồn gốc đất hiện nay bà T đang quản lý, sử dụng là của cụ X và cụ
X1, sau khi cụ X chết thì cụ X1, bà T, ông S cùng quản lý và ở trên đất. Khỏang
năm 1989 hoặc 1990 (tôi không nhớ rõ) thì ông S cùng mẹ mua đất và làm nhà
khác để ở, cách đất tranh chấp khỏang 500m. Việc mẹ con anh em chuyển, tặng
cho nhau đất như thế nào tôi không biết.
Khỏang năm 2005 anh N con bà T làm nhà, tôi và ông S cùng trong đội
thợ xây cho nhà anh N, tôi không thấy ông S, bà T và anh N có tranh chấp gì về
đất đai.
- Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn N xuất trình Giấy đề nghị vay
vốn của anh đối với Qũy tín dụng nhân dân xã Quảng Ninh và H ợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- Ngày 17/6/2024 Qũy tín dụng nhân dân xã Quảng Ninh có ý kiến liên
quan đến tài sản thế chấp như sau: GCNQ SDĐ số CI 573272 do UBND huyện
Quảng Xương cấp ngày 27/6/2027 cho anh Lê Văn N, tại thửa 43, tờ bản đồ số 8
diện tích 883m 2, địa chỉ: xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, không còn thế
chấp tại Qũy tín dụng nhân dân xã Quảng Ninh. Việc ông Nguyễn Mạnh S yêu
cầu hủy GCNQSDĐ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:
Diện tích đất đo hiện thực tế 894,3m 2; theo Chứng thư thẩm định giá số
2405310/CT-TPV ngày 13/5/2024 của Công ty cổ phần thẩm địn h giá và giám
định Tiên Phong, Chi nhánh Thanh Hóa: 01m2 đất ở giá trị 3.670.000 đồng.
Ngày 20/12/2021, anh Lê Văn N đã chuyển mục đích 660m 2 đất trồng cây
lâu năm thành đất ở nông thôn, được đăng ký biến động tại trang 4 của
GCNQSDĐ anh Lê Văn N được cấp ngày 27/6/2017.
Tài sản trên đất: Nhà má i bằng, mái tôn, công trình phụ mái tôn, sân vườn
tổng giá trị 477.832.000 đồng.
Cây cối trên đất trị giá: 3.923.000 đồng.
Tại Bản án dân s ự sơ thẩm số 139/2024/DS-ST ngày 20/9/2024, Tòa án
nhân dân t ỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Căn cứ Điều 34 , Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự; Điều 612 Bộ luật dân sự 2015; điểm đ khỏan 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, nộp, miễn nộp án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Mạnh S, cụ thể:
- Hủy GCNQSDD số CI 573272 vào sổ cấp GCN số CH-01076 do UBND
huyện Quảng Xương cấp ngày 27/6/2017 mang tên Lê V ăn N đối với thửa đất
số 43, tờ bản đồ số 8 Bản đồ địa chính xã Quảng Ninh 2014 diện tích 883m2, địa
chỉ: thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Phân chia di sản thừa kế là thửa đất số 43, tờ bản đồ số 8 Bản đồ địa
chính xã Quảng Ninh 2014, diện tích 883m2, địa chỉ: thôn Ước Thành, xã Quảng
Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Ngòai ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2024, nguyên đơn ông Nguy ễn Mạnh S kháng cáo tòan bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh S vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ X và cụ X1 để lại, căn cứ xác
nhận của UBND xã Qu ảng Ninh trên cơ s ở có đơn của ông S về việc xác nhận
nguồn gốc đất, thông qua việc lấy ý kiến khu dân cư, trong đơn xác nhận UBND xã
Quảng Ninh xác định đất là do cụ X và cụ X1 để lại. Cụ X và cụ X1 đều ở trên đất,
cụ X chết tại thửa đất, đến năm 1990 cụ X1 được ông S đón về nhà ông S ở. Bà T
tự ý kê khai quyền sử dụng đất, không có xác nhận nào thể hiện cụ X1 cho bà T
quyền sử dụng đất nêu trên, nếu có việc cụ X1 cho đất bà T thì cụ X1 cũng không
có quyền cho tòan bộ thửa đất đó vì ½ quyền sử dụng đất là di sản của cụ X để lại.
Đề nghị Hội đồng xét xử chia thừa kế di sản của cụ X1 để lại cho hàng thừa kế thứ
nhất là ông S, bà T, bà T1, ông Ch. Ông S có nguyện vọng được nhận thừa kế bằng
hiện vật, đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà T, sau này cấp cho anh N. Ông S
biết việc anh N xây nhà trên đất vì ông S biết bà T gặp trục trặc gia đình nên việc
bà T sửa sang nhà cửa để ở năm 2005 trong lúc anh em còn hòa thuận. Do vậy, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo c ủa ông S, sửa bản án sơ th ẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Bùi Thị H1 đề nghị Hội đồng xét
xử bác kháng cáo của ông S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan anh Lê Văn N nhất trí v ới ý ki ến
của đại diện theo ủy quyền của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp lu ật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa, ngư ời tham gia t ố tụng trong quá trình gi ải quyết vụ án,
đảm bảo đúng quy định pháp luật;
Về nội dung : Bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật,
tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia
thừa kế, hủy các quyết định cấp GCNQSDĐ, hủy GCNQSDĐ là có căn cứ,
đúng pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ nào
mới nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khỏan 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và
hủy GCNQSDĐ do UBND huyện Qu ảng Xương, t ỉnh Thanh Hóa c ấp cho b ị
đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu chia di sản thừa
kế, hủy GCNQSDĐ” là đúng quy định pháp luật.
Tòa án nhân dân t ỉnh Thanh Hóa th ụ lý, giải quyết vụ án là đúng th ẩm
quyền theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh S yêu cầu hủy quyết định cấp GCNQSDĐ
và hủy GCNQSDĐ cấp cho anh Lê Văn N, nhưng trong quá trình gi ải quyết vụ
án ông S không cung cấp được quyết định cấp GCNQSDĐ, Tòa án cũng không
thu thập được tài liệu này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét được yêu cầu
hủy quyết định cấp GCNQSDĐ cho anh Lê Văn N tại thửa đất 43 là đúng pháp
luật.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh S trong hạn luật định,
được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Các đương s ự đã được triệu t ập hợp lệ, bị đơn bà Nguy ễn Thị T vắng
mặt, tuy nhiên đã có m ặt đại diện theo ủy quyền, người có quyền lợi, nghĩa v ụ
liên quan UBND xã Qu ảng Ninh đã có đơn xin xét x ử vắng mặt; ông Nguyễn
Mạnh Ch, bà Nguy ễn Thị T1 và UBND huy ện Quảng Xương vắng mặt không
có lý do ; xét th ấy việc vắng mặt nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét x ử vụ
án, Hội đồng xét x ử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân s ự, xét xử vắng mặt
các đương sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo c ủa nguyên đơn ông Nguy ễn M ạnh S,
Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Đối với yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08:
- Về Hồ sơ quản lý đất qua các kỳ tại địa phương:
Bản đồ 299 năm 1985 là th ửa 100, di ện tích 860m 2, đất T, nh ưng không
xác định được chủ sử dụng đất. Tại Báo cáo s ố 87/BC-UBND ngày 03/12/2021
về việc hồ sơ địa chính lưu tại UBND xã Quảng Ninh không có sổ mục kê theo
Bản đồ 299 của UBND xã Quảng Ninh (UBND xã báo cáo v ề hiện trạng hồ sơ
lưu tại UBND xã cho UBND huy ện) có n ội dung: Hiện nay tại xã Qu ảng Ninh
chỉ sử dụng Hồ sơ địa chính 1992 để giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai
cho các hộ dân.
Bản đồ địa chính năm 1992: Th ửa đất số 233, tờ bản đồ số 2, diện tích
850m2, Sổ đăng ký ru ộng đất xã Qu ảng Ninh ghi ch ủ sử dụng Nguyễn Thị T,
lọai đất T.
Tại Sổ giao đất lâu dài năm 1993, hộ bà Nguyễn Thị T được giao tại thửa
đất số 233, tờ bản đồ số 02 gồm 200m2 đất ở và 700m2 đất vườn cùng với một
số thửa đất nông nghiệp khác.
Ngày 10/8/1993 bà Nguy ễn Thị T được UBND huyện Quảng Xương cấp
GCNQSDĐ số D 0880652 đ ối với thửa đất 233, t ờ bản đồ số 02, Bản đồ địa
chính xã Quảng Ninh năm 1992, diện tích 883m2.
Bản đồ năm 2002 là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 02, diện tích 850m2, sổ
mục kê ghi chủ sử dụng Nguyễn Thị T, lọai đất T.
Bản đồ năm 2014 là thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 883,2m2, sổ
mục kê ghi chủ sử dụng là hộ bà Nguyễn Thị T, lọai đất ONT.
Ngày 05/4/2017 bà T và các con là L ê Văn N, Lê Thị Thanh lập Văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của ông Lê Văn Dốc (chồng bà T, chết năm
1997), theo đó bà T được tòan quyền sử dụng, định đọat đối với diện tích đất tại
thửa đất 233, tờ bản đồ số 02, Bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 1992, di ện
tích 883m 2 (là thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 883,2m 2 theo bản đồ
2014), văn bản được UBND xã Quảng Ninh chứng thực ngày 05/4/2017.
Cùng ngày 05/4/2017, bà Tòan lập Hợp đồng tặng cho anh Lê Văn N tòan
bộ diện tích đ ất bà T được cấp GCNQSDĐ t ại thửa đất 233, t ờ bản đồ số 02,
Bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 1992.
Ngày 27/6/2017 anh Lê Văn N được UBND huy ện Qu ảng Xương cấp
GCNQSDĐ tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 883m2, gồm 200m2 đất
ở và 683m2 đất trồng cây lâu năm. Ngày 20/12/2021 anh Lê Văn N đã chuyển
mục đích 660m2 đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn.
- Về nguồn gốc thửa đất:
Các đương sự trong vụ án và người làm chứng đều xác định thửa đất tranh
chấp có nguồn gốc do cụ X và cụ X1 tạo lập, sinh sống cùng các con trư ớc khi
chết. Bà T lập gia đình và ở trên thửa đất từ trước khi cụ X, cụ X1 chết và cho
rằng năm 1989, sau khi cụ X chết, ông S mua thửa đất khác ở xã Quảng Ninh để
làm nhà ở, bà T đã mua lại diện tích đất tranh chấp nên cụ X1 ở cùng với ông S
đến lúc chết và không có tranh chấp gì về đất đai với bà T. Ông S cũng trình bày
khi ông lập gia đình, mua mảnh đất khác xây nhà, đưa m ẹ là cụ X1 đến ở cùng,
đồng thời đưa bát hương đ ến nhà ông để thờ cúng tổ tiên, không thờ tại khu đất
bà T sử dụng.
Những người làm chứng sống gần khu đất tranh chấp đều xác định nguồn
gốc đất là của cụ X và cụ X1, bà T và ông S ở cùng trên đất với bố mẹ, sau khi
cụ X chết (năm 1989), ông S mua nhà ở nơi khác và đưa cụ X1 đến ở cùng (cách
khu đất tranh ch ấp khỏang 500m, cùng thôn v ới mảnh đất tranh chấp), mẹ con
bà T ở lại khu đất cũ, khi m ẹ con bà T xây dựng nhà cửa kiên cố trên đất để ở,
anh chị em trong gia đình đ ều đến phụ giúp nhưng không có tranh ch ấp về đất
đai.
Bà T được ghi nh ận là ch ủ sử dụng thửa đất 233, t ờ bản đồ số 02, hồ sơ
địa chính năm 1992 xã Qu ảng Ninh và s ổ giao ruộng đất của xã Qu ảng Ninh
năm 1993. Đến năm 1994 bà N guyễn Thị T được cấp GCNQSDĐ, th ời điểm
này cụ X1 đang sống với ông S ở gần thửa đất 233 nhưng c ụ X1 không thực
hiện đăng ký quy ền sử dụng đất (không có tài li ệu nào thể hiện cụ X, cụ X1 đã
đăng ký quy ền sử dụng đất tại địa phương), không có khiếu nại, tranh ch ấp gì
đối với thửa đất bà T sử dụng. Các đương s ự và những người làm ch ứng đều
khai ông S, cụ X1 rời khỏi thửa đất tranh chấp từ sau năm 1989 và chuy ển tòan
bộ đồ thờ cúng đến nhà ông S, trên thửa đất tranh chấp chỉ còn lại gia đình bà T,
bà T đã xây d ựng lại nhà kiên c ố để ở, trong su ốt thời gian t ừ khi ông S và cụ
X1 chuyển đi khỏi thửa đất đến nơi ở mới cách khỏang 500m, cùng xã, sau này
là cùng thôn thì giữa ông S, cụ X1 và bà T không có tranh chấp về đất đai.
- Đối với Công văn s ố 15/UBND ngày 27/6/2022 c ủa UBND xã Qu ảng
Ninh, huyện Quảng Xương về việc trả lời đơn đề nghị của ông Nguyễn Mạnh S
có nội dung: Ngày 30/6/2022 UBND xã Qu ảng Ninh đã ph ối hợp cùng c ấp ủy
thôn Ước Thành tổ chức họp lấy ý kiến khu dân cư v ề nguồn gốc sử dụng thửa
đất số 233, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính xã Qu ảng Ninh năm 1992, nay là
thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, bản đồ địa chính xã Qu ảng Ninh năm 2014…
Hội nghị đã đi đ ến kết luận như sau: Ngu ốn gốc thửa đất số 233, tờ bản đồ số
02, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 1992, nay là th ửa đất số 43, tờ bản đồ
số 08, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 2014 đứng tên bà Nguyễn Thị T là
do ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị X1 để lại.
UBND xã Qu ảng Ninh ban hành Công văn số 15/UBND để trả lời ông
Nguyễn Mạnh S về việc đề nghị xác nhận nguồn gốc thửa đất 233 đang tranh
chấp, nội dung công văn ch ỉ trích lại Biên b ản hội nghị tổ chức lấy ý ki ến khu
dân cư, kết luận nguồn gốc thửa đất 233 là của cụ X, cụ X1 (không có biên bản
lấy ý ki ến kèm theo). Do đó, Công văn số 15/UBND không phải là tài li ệu có
giá trị pháp lý làm căn c ứ xác định thửa đất 233 là di s ản của cụ X và cụ X1 để
chia thừa kế, việc nguyên đơn căn c ứ vào Công văn số 15/UBND để yêu cầu
chia thừa kế đối với thửa đất 233 là không có cơ sở.
Từ lời khai của các đương s ự, của người làm chứng có thể xác định thửa
đất 233 có ngu ồn gốc do c ụ X và cụ X1 tạo lập nhưng các c ụ không đăng ký
quyền sử dụng đất, không để lại di chúc về thửa đất 233. Bà T (là con gái của hai
cụ) sau khi có gia đình đã ở cùng bố mẹ từ trước năm 1980, xây d ựng nhà ở ổn
định, đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan có th ẩm quyền, sau khi cụ X chết,
cụ X1 và ông S chuyển đến khu đất khác để ở, trên thửa đất 233 còn lại gia đình
bà T sử dụng, và được ghi nhận là chủ sử dụng đất tại địa phương từ Hồ sơ địa
chính năm 1992 (do b ản đồ 299 không có s ổ mục kê nên không xác đ ịnh được
chủ sử dụng), được giao đ ất trong s ổ giao ruộng đất lâu dài năm 1993 c ủa xã
Quảng Ninh, đư ợc cấp GCNQSDĐ năm 1994, th ời điểm bà T xây dựng nhà ở
kiến cố, kê khai quyền sử dụng thửa đất 233, cụ X1 và những người thừa kế khác
của cụ X không có tranh chấp, khiếu nại về việc sử dụng đất, việc đăng ký quyền
sử dụng thửa đất 233 của bà T. Sau khi cụ X1 chết bà T tiếp tục sử dụng đất, nộp
thuế đất, không có ai tranh chấp.
Căn cứ quy định của Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Án lệ số 03/2016/AL
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân T ối cao, cụ X, cụ X1 không kê khai
quyền sử dụng thửa đất 233, trong khi bà T đã sử dụng đất từ khi cụ X, cụ X1
đang sống trên đất, sau khi cụ X chết, bà T tiếp tục sử dụng đất, xây nhà ở kiên
cố, thực hiện nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất, được cấp GCNQSDĐ, cụ X1
và những người thừa kế của cụ X không cản trở, không tranh chấp, cũng không
có ai sử dụng thửa đất này, hiện nay, ngòai ông S, những người thừa kế khác của
cụ X, cụ X1 đều không tranh chấp đối với thửa đất 233, do đó không có căn c ứ
xác định thửa đất 233 là di s ản của cụ X và cụ X1 để chia thừa kế. Vì vậy, việc
nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế diện tích 883m2 tại thửa đất 233, tờ bản đồ số
02, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 1992 là không có căn cứ chấp nhận.
Về yêu c ầu h ủy GCNQSDĐ s ố CI 573272 do UBND huy ện Qu ảng
Xương cấp ngày 27/6/2017 mang tên Lê Văn N tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số
2, bản đ ồ địa chính xã Qu ảng Ninh năm 1992, địa ch ỉ: thôn Ư ớc Thành, xã
Quảng Ninh, huy ện Qu ảng Xương, t ỉnh Thanh Hóa : Như phân tích ở trên,
không có căn cứ để xác định diện tích đất nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là di
sản của cụ X và cụ X1 nên yêu c ầu chia di s ản thừa kế của nguyên đơn không
được chấp nhận. Bà T sử dụng đất ổn định, không tranh ch ấp, được ghi nhận là
chủ sử dụng đất trong Bản đồ địa chính, Sổ giao đất tại địa phương, thực hiện kê
khai quyền sử dụng đất và đư ợc UBND huyện Quảng Xương cấp GCNQSDĐ
năm 1994. Năm 2017 bà T đã tặng cho tòan b ộ thửa đất cho con trai là anh Lê
Văn N, năm 2017 anh N đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 43, tờ bản
đồ số 8, bản đồ địa chính xã Quảng Ninh năm 2014 (tương ứng thửa đất số 233,
tờ bản đồ số 2, bản đồ địa chính xã Qu ảng Ninh năm 1992), năm 2021 anh N
chuyển đổi mục đích s ử dụng diện tích đ ất trồng cây lâu năm thành đ ất ở. Như
vậy, việc UBND huyện Quảng Xương cấp GCNQSDĐ cho anh Lê Văn N là phù
hợp với các quy định của pháp luật.
Do vậy, Bản án sơ th ẩm đã áp d ụng đúng các căn c ứ pháp lu ật, tuyên
không chấp nhận yêu c ầu khởi kiện của ông S về việc hủy GCNQSDĐ s ố CI
573272 vào sổ cấp GCN số CH-01076 do UBND huyện Quảng Xương cấp ngày
27/6/2017 mang tên Lê Văn N đối với thửa đất số 43, tờ bản đồ số 8, bản đồ địa
chính xã Qu ảng Ninh năm 2014, diện tích 833m 2, địa chỉ: thôn Ư ớc Thành, xã
Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa là có căn c ứ, đúng quy định
của pháp luật. Nguyên đơn ông S kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ
chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông S.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao t ại Hà N ội phù h ợp v ới
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Mạnh S kháng cáo không được chấp nhận, tuy
nhiên ông S là người cao tu ổi và có đơn xin mi ễn án phí phúc thẩm nên được
miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c ứ khỏan 1 Đi ều 308 Bộ luật T ố tụng dân s ự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ờng vụ Quốc hội, quy
định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Bác kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Mạnh S.
[2] Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 139/2024/DS-ST
ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[3] Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Mạnh S.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b ị
kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự (theo đ/c);
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
- Lưu HSVA, P.HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tự Học
⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?
Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.
⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.
