Bản án số: 40/2024/HNGĐ-PT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-PT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 03/2016/AL
Ngày thông qua 1992-04-17
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Hôn nhân và Gia đình
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 21 – 11 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quang Dũng

Các Thẩm phán: Ông Hòang Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Ngọc Hoa

  • Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà

Nội.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Văn Hữu, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội,

mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số

33/2024/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia tài

sản chung c ủa v ợ chồng trong th ời k ỳ hôn nhân ”, do có kháng nghị của Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ và kháng cáo của bị đơn, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án số 55/2021/HNGĐ -ST ngày 20 tháng

9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12393 /2024/QĐ-PT ngày 04 tháng

11 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: T38, Khu tái định cư

G, K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: S11, T1, K9 đồi M,

phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

  • Người đại diện theo ủy quyền:

+ Chị Đòan Thị Hồng V, sinh năm 1980; Địa chỉ: Phường T, thành ph ố V,

tỉnh Phú Thọ (có mặt);

+ Chị Đỗ Minh N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Phường M, thành ph ố V, tỉnh

Phú Thọ (có mặt);

+ Chị Nguyễn Qùynh H, sinh năm 2002; Địa chỉ: Xã B, huy ện L, t ỉnh Phú

Thọ (vắng mặt).

  • Bị đơn: Ông Đào Văn L , sinh năm 1967 ; Địa chỉ: T38b, Khu tái định cư

G, K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  • Người đại diện theo ủy quyền của ông L : Ông Nguy ễn Văn B , sinh năm

1959, là Luật sư của Công ty Luật TNHH T, thuộc Đòan luật sư thành phố Hà Nội;

Địa chỉ: P1706, N01- T4 Khu đô th ị N, phường X, quận B, thành phố Hà Nội (có

mặt).

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Nguyễn Thị C (đã chết); Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

1.1. Bà Đào Th ị X, địa chỉ: T2, khu Q, phư ờng D, thành ph ố V, tỉnh Phú

Thọ (xin vắng mặt);

1.2. Bà Đào Th ị V, địa chỉ: Thôn D, xã H, huy ện S, t ỉnh Vĩnh Phúc (xin

vắng mặt);

1.3. Bà Đào Th ị Í, địa chỉ: K5, phư ờng V, thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ (xin

vắng mặt);

1.4. Bà Đào Th ị C1, địa chỉ: T28B, K3, phường N, thành ph ố V, tỉnh Phú

Thọ (xin vắng mặt);

1.5 Ông Đào Văn L; đ ịa chỉ: T38b, khu tái đ ịnh cư G, K5, phường V, thành

phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);

1.6. Bà Đỗ Thị T1 (xin vắng mặt);

1.7. Chị Đào Bích N (xin vắng mặt);

1.8. Anh Đào Xuân T2 (xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: T32, K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

2. Bà Đỗ Thị T1 (xin vắng mặt);

3. Chị Đào Bích N (xin vắng mặt);

4. Anh Đào Xuân T2 (xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: T32, K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

5. Chị Đào Thị Hải Y; Địa chỉ: K9, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

6. Chị Đào Thị Thu H (vắng mặt).

7. Chị Đào Thị Kim L1 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: S11, T1, K9 đồi M, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

8. Ông Đào Hòai N ; Địa chỉ: S76, T13, phường M, thành ph ố Đ, tỉnh Điện

Biên (vắng mặt).

9. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các l ời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Th ị T trình

bày: Bà T và ông Đào Văn L có đăng ký k ết hôn vào ngày 17/4/1992 t ại trụ sở

UBND phường V, thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ trên cơ s ở tự nguyện, không b ị ép

buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc trong khỏang hơn hai mươi

năm thì phát sinh mâu thu ẫn. Nguyên nhân mâu thu ẫn là do b ất đồng quan đi ểm

sống, ông L thường đánh chửi mẹ con bà T. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà

T xin được ly hôn ông L.

Về con chung: V ợ chồng có 03 con chung là Đào Th ị Hải Y , sinh ngày

04/8/1992, Đào Th ị Thu H, sinh ngày 23/8/1995; Đào Th ị Kim L, sinh ngày

18/9/1998. Hiện nay, các cháu đã thành niên lao đ ộng tự túc được nên bà T không

yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T xác đ ịnh vợ chồng bà có cá c tài s ản chung đã đư ợc

Tòa án nhân dân thành ph ố Việt Trì th ẩm định và đ ịnh giá g ồm: 200m2 đất ở tại

khu tái định cư G, phường V, TP V; 01 nhà hai t ầng xây dựng trên diện tích đất là

100m2 và công trình ph ụ xây d ựng nhà kho trên di ện tích đ ất 100m 2. Đ ối v ới

100m2 đất mà vợ chồng bà đã bán cho ông Đào Hòai N, vợ chồng bà thống nhất để

vợ chồng bà t ự thỏa thuận để hòan thành vi ệc chuyển nhượng quyền sử dụng đất

cho ông N, không yêu c ầu Tòa án xem xét đ ối với diện tích đất đã bán cho ông N.

Từ khi kết hôn với ông L, các lọai tiền thuế nhà đất và tiền thuế đất nông nghiệp bà

T đưa tiền để ông L đi đóng.

Tài sản chung trong gia đình g ồm có: 01 b ộ bàn ghế bằng gỗ mít mua năm

2015; 01 đi ều hòa Panasonic lo ại 9.000P.TU mua năm 2015; 01 t ủ lạnh lo ại

Panasonic 3001 m ua năm 2015; 01 bình nóng l ạnh Ariston 30 lít mua năm 2015;

01 bình l ọc nư ớc lo ại Panasonic mua năm 2015; 01 tivi Sony 43 inch mua năm

2015; 01 b ộ âm ly c ủa Trung Qu ốc mua năm 2015; 01 k ệ tivi gỗ tổng hợp mua

năm 2015.

Bà T yêu c ầu Tòa án chia cho bà m ột phần đất ở, 01 điều hòa, 01 máy gi ặt,

01 ti vi đ ể mẹ con bà s ử dụng, ông L ph ải thanh tóan cho bà s ố tiền 50.000.000đ

(Năm mươi tri ệu đồng). Ngòai ra v ợ chồng bà còn có đ ất ruộng diện tích 3 sào 6

thước, bà T yêu cầu chia đôi cho bà T và ông L.

Đối v ới yêu cầu c ủa ông L và c ụ C v ề việc h ủy Quy ết đ ịnh giao đ ất s ố

1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 do UBND thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ giao đất

cho bà T và ông L, bà T không đồng ý vì trước đây cụ C đã giao cho bà T và ông L

sở hữu và sử dụng.

Về công nợ: Bà T xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về công sức đóng góp gia đình: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông L xác đ ịnh vợ chồng đã mâu thu ẫn trầm trọng,

không có khả năng đòan tụ nên ông đồng ý ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông L xác đ ịnh như bà T trình bày. Hi ện nay các con chung

của ông và bà đã trưởng thành, lao động tự túc được nên ông không đề nghị Tòa án

giải quyết.

Về tài sản chung: Ông L xác định đất và nhà ở của bố mẹ ông là cụ Đào Văn

T3 để lại. Từ năm 1984, anh trai ông đi bộ đội, ông là người đi nộp thuế. Đến năm

1992, ông xây d ựng gia đình v ới bà T không có tài s ản gì. Sau đó năm 2002, ông

tự ý đi làm bìa đỏ mà không bàn bạc với mẹ ông. Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất mang tên hộ ông Đào Văn L di ện tích 1.536m 2. Đến năm 2009, v ợ chồng ông

bạc đãi với mẹ ông nên mẹ ông phải nhờ các ban ngành đòan thể khuyên giải và để

cho ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu sau này v ợ chồng ông

bạc đãi thì các c ấp có th ẩm quyền sẽ thu lại phần đất và tr ả lại cho m ẹ ông là c ụ

Nguyễn Thị C. Ngày 08/02/2010, UBND thành ph ố V ra Quyết định số 1478/QĐ-

UBND về việc giao đất tái định cư cho hộ ông Đào Văn L và bà Lê Thị T, ô đất số

81, diện tích là 300m2 tại K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau đó ông và

bà T đã bán 100m 2 đất cho ông Đào Hòai N . Đối với diện tích đất đã bán cho ông

N, ông và bà T th ống nh ất đ ể vợ chồng ông t ự thỏa thu ận đ ể hòan thi ện vi ệc

chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N theo quy đ ịnh của pháp lu ật và đ ề

nghị Tòa án không gi ải quyết phần đất đã bán cho ông N. Ông L đ ề nghị Tòa án

hủy Quy ết đ ịnh s ố 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 c ủa UBND thành ph ố V,

tỉnh Phú Thọ về việc giao đất tái định cư cho hộ ông Đào Văn L và bà Lê Thị T để

trả lại đất cho cụ Nguyễn Thị C.

Ông L xác định vợ chồng chỉ có tài sản chung là các đồ dùng sinh họat trong

nhà như bà T đã khai g ồm có: 01 bộ bàn ghế bằng gỗ mít mua năm 2015; 01 đi ều

hòa Panasonic lọai 9.000PTU mua năm 2015; 01 t ủ lạnh lọai Panasonic 3001 mua

năm 2015; 01 bình nóng lạnh Ariston 30 lít mua năm 2015; 01 bình l ọc nước lọai

Panasonic mua năm 2015; 01 tivi Sony 43inch mua năm 2015; 01 b ộ âm ly c ủa

Trung Quốc mua năm 2015; 01 kệ tivi gỗ tổng hợp mua năm 2015. Ông L yêu c ầu

Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu chia đất ruộng, ông L xác định diện tích đất ruộng hiện nay

ông và bà T đang s ử dụng được Nhà nư ớc chia t ừ năm 1992, lúc chia ru ộng gia

đình ông có 05 kh ẩu nhưng thực tế ruộng được chia cho 4, 5 kh ẩu gồm: ông L, bà

T, cụ C, bà C1 là em gái ông mỗi người được 1 suất và cháu Đào Thị Hải Y là con

của ông và bà T lúc đó m ới sinh được 0,5 suất. Nay bà T đ ề nghị được chia phần

đất ruộng ông yêu cầu phần của ai được hưởng thì chia cho người đó.

Về nợ chung: Ông L xác định không có không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Ông L xác định vợ chồng ông

không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Thị C trình bày: Cụ

C và cụ T3 có với nhau 6 ngư ời con là Đào Th ị X, Đào Thị V, Đào Văn T 4, Đào

Văn L, Đào Th ị Í và Đào Th ị C1. Vợ chồng cụ được cấp 1.364m2 đất ở tờ bản đồ

số 50, sơ đồ 299, tại K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Năm 1988, chồng

cụ chết, con trai cả của cụ lấy vợ. Các khỏan tiền thuế đất và thuế ruộng cụ C đều

đưa tiền cho ông L đi n ộp thuế. Năm 1992, ông L xây d ựng gia đình v ới bà T ở

trên mảnh đ ất c ủa c ụ đến năm 2002 nhà nư ớc ch ủ trương c ấp gi ấy ch ứng nh ận

quyền sử dụng đất cho ông L thực tế là để ông L đi đóng thuế cho cụ C.

Năm 2009 đư ợc Nhà nư ớc đ ền b ù, ông L đã l ấy s ố tiền đó và sau đó v ợ

chồng ông L đư ợc bố trí chỗ ở mới tại khu tái đ ịnh cư G với diện tích là 300m 2

theo Quy ết đ ịnh s ố 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 c ủa UBND thành ph ố V,

tỉnh Phú Thọ. Năm 2010, vợ chồng ông L đã bán 100m 2 đất cho ông Đào Hòai N.

Nay vợ chồng ông L ly hôn, quan đi ểm của cụ C là đề nghị Tòa án nhân dân t ỉnh

Phú Th ọ giải quy ết h ủy Quy ết đ ịnh s ố 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 c ủa

UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ về việc giao đất tái định cư cho hộ ông Đào Văn

L và bà Lê Thị T để trả lại đất cho cụ C. Đối với diện tích đất đã bán cho ông Đào

Hòai N, c ụ C không yêu c ầu giải quyết vì ông L, bà T bán và đã nh ận tiền, cụ C

yêu cầu Tòa án trả lại cho cụ 200m2 đất ở tại khu tái định cư G.

Đối với diện tích đất ruộng, cụ C xác định khi Nhà nước chia ruộng (từ năm

1988 đến năm 1992) lúc đó gia đình c ụ có 4,5 nhân khẩu gồm có cụ, ông L, bà T,

bà C1 và cháu Y (cháu Y đư ợc nửa khẩu). Phần đất ruộng của cụ, cụ đề nghị Tòa

chia cho cụ sử dụng, phần đất ruộng của ông L, bà T, bà C 1, cháu Y đề nghị Tòa

chia theo pháp luật.

Người đ ại di ện c ủa Ủy ban nhân dân thành ph ố V có quan đi ểm: Ngày

30/11/2000, ông Đào Văn L và bà Lê Thị T làm đơn xin đăng ký cấp GCNQSD đất

lần đầu đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 50, diện tích 1356,0m2 (đất ở 300m2,

đất vườn 1056m2) tại K5, phường V, thành phố V; nguồn gốc sử dụng đất: Đất thổ

cư cũ.

Ngày 10/5/2002, H ội đ ồng xét duy ệt vi ệc đăng ký c ấp GCNQSD đ ất c ủa

UBND xã V (nay là phư ờng V) xác nhận hộ ông Đào Văn L cùng v ợ là bà Lê Thị

T có th ửa đất thổ cư diện tích 1 .356,0m2 đủ điều kiện cấp GCNQSD đ ất, đề nghị

cấp trên xét duy ệt. Ngày 22/12/1998, UBND xã V (nay là phư ờng V) xác nh ận

nhất trí v ới ý ki ến của Hội đồng xét duyệt, trình t ự thủ tục cấp theo quy đ ịnh của

Luật đất đai.

Đến năm 2004, Nhà nư ớc thực hiện dự án xây dựng trường Đại Học Hùng

Vương thuộc địa bàn xã V, thành ph ố V. Nhà nước đã thu hồi đất để thực hiện dự

án và b ố trí giao đ ất tái đ ịnh cư cho h ộ ông L t ại Quyết định số 1478/QĐ-UBND

ngày 08/02/2010. Nay ông L, cụ C đề nghị hủy Quyết định giao đ ất trên đề nghị

Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đào Hòai N có lời khai: Do

có m ối quan h ệ anh em trong gia đình, ngày 15/9/2010 ông N làm h ợp đ ồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông L, bà T tại khu tái định cư G,

K5, phường V, thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ, diện tích ph ần đất mua bán là 100m 2

nằm trong t ổng di ện tích c ủa gia đình ông L, bà T là 300m 2 với giá là

360.000.000đ. Ông đã tr ả 340.000.000đ (ba trăm b ốn mươi tri ệu đ ồng), còn

20.000.000đ (hai mươi triệu) sẽ thanh tóan khi gia đình ông L, bà T làm xong Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất và hòan t ất các thủ tục pháp lý v ề chuyển nhượng

quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nhưng đến nay ông chưa thể hòan

tất được thủ tục sang tên q uyền sử dụng phần đất đã mua vì gia đình ông L, bà T

chưa làm xong Gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông L, bà T đang

giải quyết việc ly hôn t ại Tòa án, ông N đ ề nghị ông L, bà T ph ải có trách nhi ệm

hòan tất các thủ tục pháp lý chuyển quyền sử dụng phần đất đã chuyển nhượng cho

ông theo như đã th ỏa thuận. Ông N đ ề nghị Tòa án khi gi ải quyết vụ án xem xét

công nhận việc chuyển nhượng giữa ông và ông L, bà T theo h ợp đồng chứng cứ

đã nộp tại Tòa án.

Bà Đào Thị X, bà Đào Th ị V, bà Đào Th ị Í, Bà Đào T hị C1, người kế thừa

quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đào Văn T4 là bà Đỗ Thị T1, chị Đào Thị Bích

N và anh Đào Xuân T 2 trình bày: Các ông bà là con cháu c ủa cụ Đào Văn T3 và

cụ Nguyễn Thị C. Cụ T3 chết năm 1988 không để lại di chúc, tài sản của cụ T3 và

cụ C tạo dựng là diện tích 1.354m2 đất và 01 ngôi nhà 5 gian cùng cây c ối lâm lộc

trên đất. Sau khi các ông bà trư ởng thành, đi xây d ựng gia đình thì ch ỉ còn ông L,

bà T ở cùng với cụ C trên diện tích 1354m2 đất tại xứ đồi C, K5, phường V, thành

phố V. Đến năm 2015, Nhà nư ớc thu hồi tòan bộ diện tích đất trên và tài s ản trên

đất để làm dự án trường Đại học Hùng Vương, Nhà nư ớc đã đ ền bù 300m 2 đất ở

khu tái định cư G, sau đó vợ chồng ông L, bà T xây nhà trên di ện tích khu tái định

cư G. Nay ông L và bà T ly hôn, quan điểm của các ông bà như sau: Tòan b ộ tài

sản đất và nhà ở tại khu tái định cư G là của cụ Nguyễn Thị C, không phải của ông

L, bà T mua và t ạo dựng được nên đ ề nghị Tòa án tr ả lại tòan b ộ diện tích đ ất ở

Khu Tái Định cư G và tài sản là ngôi nhà trên đất cho cụ Nguyễn Thị C đứng tên.

Đối với diện tích đất ruộng bà T yêu c ầu chia, bà Đào Th ị C1 có quan điểm

như sau: Ph ần đất ruộng của bà đư ợc chia theo nhân kh ẩu từ năm (từ năm 1988

đến năm 1992) lúc đó gia đình bà có 4,5 nhân kh ẩu gồm có cụ C, ông L, bà T, bà

và cháu Y đư ợc nửa khẩu. Phần đất ruộng của bà C1, bà đề nghị Tòa án chia cho

bà vì bà vẫn có nhu cầu sử dụng, phần đất ruộng của ông L, bà T, cụ C, cháu Y đề

nghị Tòa án chia theo pháp lu ật. Phần đất ruộng đã đền bù bà không đ ề nghị chia,

chỉ đề nghị chia phần đất còn lại.

Chị Đào Thị Hải Y, chị Đào Thị Thu H và chị Đào Thị Kim L trình bày: Chị

Y, chị H, chị L là con gái c ủa bà Lê Th ị T và ông Đào Văn L. Ông L, bà T đang

làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, đối với tài sản chung của ông

L, bà T là nhà và đ ất tái đ ịnh cư, ch ị Y, chị H, chị L không có đóng góp gì, th ời

điểm cấp đất tái định cư chị Y, chị H, chị L còn nhỏ và đang đi h ọc. Trường hợp

Tòa án giải quyết cho ông L, bà T ly hôn đ ề nghị Tòa án chia nhà và đ ất cho bà T

để có nơi nương tựa tuổi già.

Đối với điện tích đất ruộng, chị Đào Thị Hải Y yêu c ầu được chia theo quy

định của pháp luật và giao tòan bộ cho bà Lê Thị T sử dụng.

Tại Bản án số 60/2019/HNGĐ-ST ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh

Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ khỏan 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 59,

Điều 60, Điều 62, Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình; khỏan 4 Điều 147 Bộ luật tố

tụng dân s ự; đi ểm a, b kho ản 5 Đi ều 27 Ngh ị quyết s ố 326/2016/UBTVQH 14

ngày 30/12/2016 c ủa ủy ban Thư ờng v ụ Quốc h ội quy đ ịnh v ề mức thu, mi ễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T và

ông Đào Văn L.

2. Về con chung: Ông Đào Văn L, bà Lê Th ị T xác đ ịnh hiện nay các con

chung của ông và bà đã trưởng thành, lao động tự túc được nên không đề nghị Tòa

án giải quyết.

3. Về tài sản chung vợ chồng:

  • Ông L đư ợc giao tài s ản g ồm: 100m2 đất x 3.500.000đ = 350.000.000đ

thửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ, có

chỉ giới 1,2,6,7,1 (có sơ đồ kèm theo); 01 nhà hai tầng xây dựng trên diện tích đất

là 100m2 trị giá: 316.800.000đ; 01 b ộ bàn ghế bằng gỗ mít mua năm 2015 tr ị giá:

7.200.000đ; 01 t ủ lạnh lọai Panasonic 3001 mua năm 2015 trị giá: 2.200.000đ; 01

bình nóng lạnh Aristón 30 lít mua năm 2015 tr ị giá: 1.500.000đ; 01 bình l ọc nước

lọai Panasonic mua năm 2015 tr ị giá: 2.400.000đ; 01 âm ly tàu mua năm 2015 tr ị

giá: 1.200.000đ; 01 k ệ tivi gỗ tổng hợp mua năm 2015 tr ị giá: 1.100.000đ. T ổng

giá trị tài sản ông L được giao là: 682.400.000đ.

  • Bà T được giao tài s ản gồm: 100m2 đất x 3.500.000đ = 350.000.000đ thửa

đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành ph ố V, tỉnh Phú Th ọ, có ch ỉ

giới 2,3,4,5,6,10,2 (có sơ đ ồ kèm theo); Công trình ph ụ xây d ựng, nhà kho trên

diện tích đ ất 100m 2 trị giá: 18.690.000đ; 01 đi ều hòa Panasonic lo ại 9.000PTU

mua năm 2015 tr ị giá: 1.300.000đ; 01 tivi Sony 43 inch mua năm 2015 tr ị giá:

6.500.000đ. Tổng giá tr ị tài s ản bà T đư ợc nh ận là: 376.490 .000đ (Ba trăm b ảy

mươi sáu triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Ông L phải thanh tóan cho bà T 66.000.000đ (Sáu mươi sáu triệu đồng) tiền

chênh lệch giá tr ị tài sản; thanh tóan cho c ụ C 116.655.000đ (Một trăm mư ời sáu

triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Bà T phải thanh tóan cho c ụ C 116.655.000đ (Một trăm mười sáu triệu, sáu

trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Công nhận việc mua bán đ ất giữa ông L, bà T v ới ông N là hợp pháp. Ông

L, bà T có trách nhi ệm hòan t ất thủ tục mua bán trong th ời gian s ớm nhất để làm

thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Hòai N.

Bà Lê Thị T được quyền lưu cư trong th ời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ

hôn nhân chấm dứt.

Đất nông nghiệp: Giao cho bà T, ch ị Y thống nhất phần được chia giao cho

bà T sử dụng gồm các thửa: Thửa số 38 tờ bản đồ số 480 – 17 xứ đồng C diện tích

141m2; thửa số 50 tờ bản đồ 415 xứ Đồng C diện tích 126m2; thửa số 50 tờ bản đồ

số 485 xứ Đồng D diện tích 72m2. Tổng diện tích 03 thửa là 339m2 (Biên bản thỏa

thuận vào ngày 25/6/2019).

Giao bà C1 sử dụng các th ửa số 38 tờ bản đồ số 359 xứ đồng C di ện tích

75m2; thửa số 37 tờ bản đồ 226 xứ Đồng N diện tích 108m2 thực tế sử dụng 54m2;

thửa số 50 tờ bản đồ 14 xứ Đồng M di ện tích 110m 2. Tổng diện tích 03 th ửa là

239m2.

Giao cho cụ C và ông L sử dụng thửa đất số 50 tờ bản đồ số 41 – 3 xứ Đồng

C, diện tích trong Gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 536m 2 thực tế sử dụng

416m2. Còn 02 th ửa đất ruộng ở (01 thửa ở C, 01 th ửa ở xứ Đồng K) không n ằm

trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ông L đan g sử dụng. Các bên

thống nhất giao cho ông L ti ếp tục sử dụng. Sau khi ly hôn ông L v ẫn tiếp tục sử

dụng nhưng n ếu Nhà nư ớc thu h ồi đền bù ho ặc có nhu c ầu chuyển nhượng (bán)

thì phải chia giá tr ị phần đền bù. Ho ặc chuyển nhượng thành 4,5 ph ần (ông L, c ụ

C, bà C1, bà T mỗi người một phần, chị Y 0,5 phần).

4. Về công nợ, công s ức trong th ời kỳ hôn nhân: Không có, không đ ề nghị

Tòa án giải quyết.

Tại Bản án phúc th ẩm số 20/2020/HNGĐ-PT ngày 09/11/2020 c ủa Tòa án

nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã x ử: Hủy một phần Bản án số 60/2019/HNGĐ-ST

ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân t ỉnh Phú Th ọ về phần chia tài s ản. Đình chỉ

xét xử phúc thẩm đối với yêu c ầu buộc bà Lê Th ị T trả lại số tiền nhà nư ớc bồi

thường là 1.250.000.000 đồng và số tiền bán đất cho anh Đào Hòai N. Gi ữ nguyên

các quyết định của bản án sơ th ẩm về các vấn đề quan hệ hôn nhân, về con chung

và phân chia tài s ản là quy ền sử dụng đất nông nghi ệp và vi ệc mua bán đ ất giữa

ông L, bà T với anh Đào Hòai N.

Tại Bản án số 55/2021/HNGĐ -ST ngày 20 tháng 9 năm 2021 của Tòa án

nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ khỏan 1 Điều 28, khỏan 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 59, Điều

60, 61,62 Lu ật hôn nhân và gia đình; kho ản 4 Đi ều 147 B ộ luật tố tụng dân s ự;

điểm b, e khỏan 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T.

  • Xác đ ịnh kh ối tài s ản chung g ồm: 200m 2 đất x 3.500.000đ =

7000.000.000đ thửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành phố V, tỉnh

Phú Th ọ; 01 nhà hai t ầng xây d ựng trên di ện tích đ ất là 100 m2 trị giá

316.800.000đ; 01 b ộ bàn gh ế bằng g ồ mít tr ị giá 7.200.000đ; 01 t ủ lạnh lo ại

Panasonic 300L tr ị giá 2.200.000đ; 01 bình nóng l ạnh Ariston 30 lít tr ị giá

1.500.000đ; 01 bình l ọc nước lọai Panasonic tr ị giá 2.400.000đ; 01 âm ly tr ị giá

1.200.000đ; 01 k ệ tivi gỗ tổng hợp trị giá 1.100.000đ. Công trình ph ụ, nhà tr ị giá

18.690.000đ; 01 đi ều hòa Panasonic lo ại 9.000PTU 1.300.000đ; 01 tivi sony

43inch trị giá 6.500.000đ. Tổng giá trị tài sản là 1.059.490.000đ.

  • Chia tài sản như sau:

2. Giao cho ông Đào Văn L được sở hữu và sử dụng tài sản gồm: 100 m2 đất

x 3.500.000đ = 350.000.000đ th ửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V,

thành phố V, tỉnh Phú Thọ; 01 nhà hai tầng xây dựng trên diện tích đất là 100m2 trị

giá 316.800.000đ, có chỉ giới 1,2,6,7,1 (có sơ đồ kèm theo); 01 bộ bàn ghế bằng gỗ

mít trị giá 7.200.000đ; 01 tủ lạnh lọai Panasonic 300L tr ị giá 2.200.000đ; 01 bình

nóng lạnh Ariston 30 lít tr ị giá 1.500.000đ; 01 bình lọc nước lọai Panasonic trị giá

2.400.000đ; 01 âm ly tr ị giá 1.200.000đ; 01 kệ tivi gỗ tổng hợp trị giá 1.100.000đ.

Tổng là 682.400.000đ (Sáu trăm tám mươi hai tri ệu bốn trăm nghìn đồng). Ông L

phải tự xử lý cắt bỏ đọan đường ống nhựa nước thải chảy từ (phần đất giao cho bà

T) chảy vào bể biôga.

3. Giao cho bà Lê Th ị T được sở hữu và sử dụng tài s ản gồm: 100m2 đất x

3.500.000đ = 350.000.000đ th ửa đất s ố 81, t ờ bản đ ồ số 39 t ại K5, phư ờng V ,

thành phố V, tỉnh Phú Th ọ; Công trình ph ụ xây dựng, nhà kho trên di ện tích đ ất

100m2 trị giá 18.690.000đ, có ch ỉ giới 2,3,4,5,6,10,2 (có sơ đ ồ kèm theo); 01 đi ều

hòa Panasonic lo ại 9.000PTU tr ị giá 1.300.000đ; 01 tivi sony 43 inch tr ị giá

6.500.000đ. T ổng là 376.490.000đ (Ba trăm b ẩy mươi sáu tri ệu bốn trăm ch ín

mươi nghìn đồng) (Máy điều hòa + ti vi ông L đang qu ản lý có trách nhi ệm giao

cho bà T).

4. Ông Đào Văn L ph ải thanh tóan ti ền chênh lệch tài sản cho những người

kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C và người có quyền lợi liên quan là 417.527.500đ

(Bốn trăm mười bẩy triệu năm trăm hai bẩy nghìn năm trăm đồng).

5. Bà Lê Th ị T phải thanh tóan chênh l ệch tài sản cho những người kế thừa

quyền nghĩa vụ của cụ C và những người có quyền lợi liên quan là 112.271.500đ.

(Một trăm mười hai triệu hai trăm bẩy mốt nghìn năm trăm đồng).

6. Tổng cộng những người k ế thừa quyền nghĩa v ụ của cụ C và ngư ời có

quyền l ợi liên quan đư ợc thanh tóan là 529.745.000đ (Năm trăm hai mươi chín

triệu bẩy trăm bốn lăm nghìn đồng)

7. Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C và người có quyền lợi liên

quan gồm: Bà Đào Thị X, Đào Thị V, Đào Thị Í, Đào Thị C1, Đào Văn L, Đỗ Thị

T1, Đào Bích N, Đào Xuân T2.

  • Khi bản án có hi ệu lực pháp lu ật, khi ngư ời được thi hành án có đơn đ ề

nghị thi hành án mà ngư ời phải thi hành án chưa tr ả hết số tiền trên thì còn ph ải

chịu lãi suất chậm thanh tóan theo quy đ ịnh Điều 357 và 468 B ộ luật dân s ự, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy đ ịnh tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân s ự, người phải thi hành án dân s ự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thì hành án, tự nguyện thì hành án

hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ ịnh tại Điều 6, 7a, 7b và Đi ều 9 Lu ật thì

hành án dân s ự; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự.

8. Bác yêu c ầu của ông Đào Văn L đ ề nghị hủy Quyết định số 1478/QĐ-

UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V.

9. Về án phí dân sự:

+ Bà Lê Thị T phải chịu 18.824.500đ án phí dân s ự sơ thẩm. Xác nhận bà T

đã n ộp 19.200.000đ t ại biên lai thu s ố 0003065 ngày 13/12/2017 t ại Chi c ục

THADS TP V. Trả lại cho bà T 375.500đ.

+ Ông Đào Văn L phải chịu 31.296.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

+ Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C và người có quyền lợi liên

quan: Bà X, bà V, ông L, bà Í, bà C 1, bà T1, chị N, anh T2 phải chịu 25.189.800đ

án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản.

Ngòai ra, Bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo, kháng nghị theo

quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dâ n tỉnh Phú Thọ ra

Quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm với nội dung xác định tư cách tố tụng của

ông Đào Văn L, bà Đỗ Thị T1, chị Đào Thị Bích N, anh Đào Xuân T2 chưa đầy đủ

theo quy định tại khỏan 1 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định giá trị tài

sản của bà T được sở hữu, sử dụng chưa chính xác; tính án phí dân sự sơ thẩm đối

với bà T, ông L không đúng pháp luật.

Ngày 05/10/2021, bị đơn là ông Đào Văn L kháng cáo yêu cầu xem xét định

giá lại tài sản, chia cho cụ C hưởng tài sản bằng đất, xem xét á n phí sơ thẩm;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị X, Đào Thị V, Đào Thị Í,

Đào Thị C 1, Đỗ Thị T 1 có đơn kháng cáo tòan bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy

Quyết định số 1478/QĐ -UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V, trả lại

cụ Nguyễn Thị C 200m2 đất ở.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng

cáo không rút kháng cáo, Vi ện kiểm sát không rút kháng ngh ị, các bên đương s ự

không thỏa thuận được về giải quyết vụ án.

Ông Đào Văn L, ngư ời đại diện theo ủy quyền của ông L sau khi trình bày

kháng cáo, căn c ứ kháng cáo, ý ki ến tranh t ụng đã đ ề nghị Hội đồng xét x ử chấp

nhận kháng cáo c ủa ông Đào Văn L, s ửa bản án sơ th ẩm theo hư ớng hủy Quyết

định 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ; trả

lại 200m2 đất cho cụ Nguyễn Thị C; chia tài sản trả công sức cho bà Lê Thị T bằng

tiền; đề nghị định giá lại tài sản.

Người đ ại di ện theo ủy quy ền c ủa nguyên đơn đ ề nghị không ch ấp nh ận

kháng cáo c ủa bị đơn và ngư ời có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan; đ ối với kháng

nghị của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát

biểu ý kiến: Kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

tỉnh Phú Th ọ làm đúng quy đ ịnh của pháp l uật nên được chấp nhận xem xét theo

trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương s ự chấp hành

đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội

dung kháng cáo, kháng nghị, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

và căn cứ vào diễn biến phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp

cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các đương

sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, sửa Bản án sơ

thẩm số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo

nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c ứu các tài li ệu, ch ứng cứ có trong h ồ sơ vụ án; th ẩm tra

công khai t ại phiên tòa, nghe ý ki ến trình bày, tranh lu ận của các bên đương s ự;

quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao t ại Hà

Nội; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo c ủa các đương s ự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

tỉnh Phú Th ọ làm đúng quy đ ịnh của pháp lu ật được chấp nhận để xét xử vụ án

theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc th ẩm, vắng mặt một s ố người tham gia t ố tụng, những

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo có đơn xin xét x ử vắng mặt,

phiên tòa đư ợc mở nhiều lần nên Tòa án quy ết định xét x ử vụ án v ắng mặt các

đương sự là đúng theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo, kháng nghị:

[2.1] T ại Bản án s ố 60/2019/HNGĐ-ST ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân

dân tỉnh Phú Thọ đã giải quyết các quan hệ về hôn nhân, con chung, chia đất nông

nghiệp. Các quy ết định này không có kháng cáo kháng ngh ị đã có hi ệu lực pháp

luật. Tại Bản án số 23/2020/HNGĐ-PT ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân c ấp

cao tại Hà Nội đã quyết định: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu đòi bà T

trả lại 1.250.000.000đ và số tiền đất bán cho anh N. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ

giải quy ết ph ần chia tài s ản và xem xét đ ối v ới yêu c ầu h ủy Quyết đ ịnh số

1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V là đúng.

[2.2] Về chia tài sản: Theo k ết quả xem xét th ẩm định và đ ịnh giá tài s ản

ngày 23/3/2018 thì xác đ ịnh là tài s ản chung c ủa bà T và ông L có tài s ản thống

nhất được và tài sản không thống nhất được:

  • Tài sản thống nhất được gồm các tài sản có giá tr ị như sau: 01 bộ bàn ghế

bằng g ỗ mít mua năm 2015 tr ị giá 7.200.000đ; 01 đi ều hòa Panasonic lo ại

9.000PTU mua năm 2015 tr ị giá 1.900.000đ; 01 tủ lạnh lọai Panasonic 300L mua

năm 2015 tr ị giá 2.200.000đ; 01 bình nóng l ạnh Ariston 30 lít mua năm 2015 tr ị

giá 1.500.000đ; 01 bình lọc nước lọai Panasonic mua năm 2015 tr ị giá 2.400.000đ

01 tivi sony 43 inch mua năm 2015 trị giá 6.500.000đ; 01 âm ly TQ mua năm 2015

trị giá 1.200.000đ; 01 kệ tivi gỗ tổng hợp mua năm 2015 tr ị giá 1.100.000đ. Tổng

giá trị tài sản là đ ồ dùng sinh ho ạt ông L và bà T thống nhất được xác đ ịnh là tài

sản chung của vợ chồng trị giá 24.000.000đ.

  • Tài sản không th ống nhất được gồm: 200 m 2 đất ở tại khu tái đ ịnh cư G,

phường V, thành ph ố V trị giá: 3.500.000đ/m2 x 200 m2 = 700.000.000đ; 01 nhà

hai tầng xây dựng trên diện tích đất là 100 m2 trị giá 316.800.000đ; Công trình phụ

xây dựng, nhà kho trên di ện tích đ ất 100 m2 trị giá 18.690.000đ. T ổng giá tr ị tài

sản là 1.035.490.000đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T cho r ằng: Tòan b ộ đất, nhà và công trình ph ụ

trên đất là tài sản chung của vợ chồng. Từ khi kết hôn với ông L, các lọai tiền thuế

nhà đất và tiền sản lượng bà T đã lo và để ông lợi đi đóng. Khi ly hôn, bà T đề nghị

Tòa án chia cho bà một phần đất ở, 01 điều hòa, 01 ti vi đ ể mẹ con bà s ử dụng.

Ông L cho rằng vợ chồng không có tài sản chung gì, tất cả là của cụ C.

+ Thửa đất có ngu ồn gốc là c ủa cụ C và c ụ T3, cụ T3 chết không đ ể lại di

chúc. Nhưng kể từ thời điểm cụ T3 chết năm 1988, các co n của cụ T3 và cả cụ C

không ai yêu c ầu chia di s ản thừa kế của cụ T3. Thời điểm cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Đào Văn L, ngòai gi ấy ủy quyền của cụ C, lẽ

ra còn phải được sự đồng ý của những người con của cụ T3 (những người thừa kế

theo pháp luật di sản thừa kế do cụ T3 để lại), tuy nhiên cả 5 người con còn lại của

cụ T3 và cụ C đều biết việc ông L đứng tên trong Giấy CNQSDĐ nhưng không ai

thắc mắc gì.

Đến năm 2008, Biên bản họp gia đình có đầy đủ chữ ký của 6 người con của

cụ C, có xác nhận của Trưởng K5 là ông Nguy ễn Văn N, Phó Ch ủ tịch UBND xã

V, ông Nguyễn Quốc T ký đóng dấu (BL155) thể hiện cụ C chỉ yêu cầu lấy lại 1/4

diện tích đ ất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các anh ch ị em trong gia

đình cũng nh ất trí vi ệc cụ C đòi lại 1/4 di ện tích đ ất mà không ai có ý ki ến gì v ề

việc yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản thừa kế của cụ T3 để lại. Qua đó cho

thấy, thời điểm đó cụ C và 5 người con còn lại của cụ C đều mặc nhiên thừa nhận

đã cho ông L tòan quy ền sở hữu đối với 3/4 diện tích đ ất trong gi ấy chứng nhận

quyền sử dụng đất đứng tên ông L, còn 1/4 di ện tích đất trả lại cho cụ C như biên

bản họp gia đình đã th ống nhất (Căn cứ án lệ số 03/2016/AL theo Quy ết định số

220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ).

Biên bản họp gia đình năm 2008 đã xác định rõ cụ C lấy lại 1/4 diện tích đất

trong GCNQSDĐ. Khi đư ợc tiền đền bù đ ất quy ho ạch, lẽ ra ông L và bà T ph ải

trích lại 1/4 tiền đền bù tương ứng với 1/4 diện tích đất được đền bù để trả lại cho

cụ C nhưng ông L và bà T không trả lại cho cụ C khỏan tiền đó mà sử dụng để làm

nhà. Khi cấp đất tái định cư là cấp cho hộ ông L và bà T ch ứ không phải cấp riêng

cho ông L và bà T mà hộ ông L thời điểm đó cụ C vẫn đang là người đứng tên chủ

hộ trong sổ hộ khẩu của gia đình. Tiền xây dựng nơi ở tái định cư vẫn là tiền được

đền bù đất bị thu hồi. Do vậy cần phải xác định 2002 đất ở đang có tranh chấp là tài

sản chung c ủa của hộ gia đình ông L, bà T và c ụ C. Các con c ủa ông L đ ều xác

định: nhà đ ất là tài s ản chung c ủa bố mẹ, thời điểm cấp đất tái đ ịnh cư các cháu

còn nhỏ, đang đi h ọc, không có đóng góp gì. T ại phần nhận định 2.2 c ủa Bản án

phúc thẩm số 23/2020/HNGĐ- PT ngày 09/11/2020 của Tòa án nhân dân c ấp cao

tại Hòa N ội cũng nhận định: “Bản án sơ th ẩm xác đ ịnh nhà đ ất là tài s ản chung

của cụ C, ông L, bà T là có căn c ứ”. Do vậy, Tòa án c ấp sơ thẩm xác định 200m2

đất ở là tài sản chung của ông L, bà T và cụ C là có căn cứ.

Năm 2009, th ực hiện dự án xây d ựng Đại học Hùng Vương, di ện tích đ ất

của cụ C và ông L n ằm trong vùng quy họach dự án. Nhà nước đã th ực hiện việc

đền bù và giao đ ất tái đ ịnh cư cho ông L và bà T. Theo Quyết định số 1478/QĐ-

UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V: Giao đất tái định cư cho hộ ông

L và bà T, đ ịa điểm thửa đất: ô số 81, kích thước 15m x 20m, diện tích 300m 2 tại

khu vực tái định cư G, xã V, thành phố V. Thời điểm đó cụ C vẫn đứng tên chủ hộ

trong sổ hộ khẩu của gia đình, g ồm có: Cụ C, ông L, bà T và 3 con c ủa ông bà T ,

L.

Từ khi được giao đất tái định cư cho đến trước thời điểm vợ chồng bà T ông

L phát sinh mâu thuẫn năm 2010, không ai có ý kiến gì về việc quyết định giao đất

đứng tên hộ ông L và bà T. Ông bà T, L đã xây nhà hai t ầng kiên cố trên thửa đất

được cấp, năm 2010 cả hai ông bà T L đều nhất trí bán 100m2 đất cho ông N trong

tổng diện tích 300m 2 đất tái đ ịnh cư đư ợc UBND thành ph ố V cấp. Cụ C và các

anh chị em ruột của ông L cũng biết việc ông L bà T xây nhà và bán đất cho ông N

cũng không ai có ý ki ến gì. Đi ều này th ể hiện ý chí c ủa cụ C, ông L và những

người liên quan là các con c ụ C đều thừa nhận thửa đất được cấp cho hộ ông L, bà

T, trong đó có c ụ C. Như vậy, việc cụ C và những người liên quan ( là con, cháu

của cụ C) cho r ằng 200m 2 đất và t ài sản đất là c ủa cụ C là không có căn c ứ nên

không chấp nhận kháng cáo yêu cầu trả lại 200m2 đất cho cụ C.

Tại các phiên tòa sơ thẩm, ông L cho rằng tòan bộ tài sản trong gia đình là

của cụ C. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông L và cụ C đều xác định

tài sản chung c ủa vợ chồng ông L là những đồ dùng sinh ho ạt trong gia đình. Do

vậy, xác đ ịnh tài s ản chung c ủa hộ ông L, bà T gồm tài s ản như k ết quả xem xét

thẩm định, định giá ngày 23/3/2018 của Hội đồng định giá. Khi xét xử sơ thẩm, các

đương sự đồng ý k ết quả định giá tài s ản, không ai có yêu c ầu đ ịnh giá l ại nên

không chấp nhận yêu cầu kháng cáo đề nghị định giá lại tài sản. Tổng giá trị tài sản

được xác định là tài sản chung là 1.059.490.000 đồng.

Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng ông L và cụ C được chia làm 3

phần. Nhưng xét về nguồn gốc của tài sản có từ đất của cụ C, cụ T3 để lại nên Tòa

án cấp sơ thẩm chia cho cụ C nhiều hơn, thêm một phần nữa là phù hợp. Như vậy,

tổng tài s ản chung ch ia 4 ph ần, cụ C 2 phần, ông L , bà T mỗi người một phần là

phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc chia diện tích đất thành 3 ph ần sẽ ảnh

hưởng đến công trình kiên cố như nhà ở, nhà kho, công trình phụ trên đất và do cụ

C đã chết, nhu cầu về nhà ở không còn; mẹ con bà T không có chỗ ở nào khác nên

diện tích đất có 200 m2 được chia đều cho bà T, ông L mỗi người 100 m2 là có căn

cứ. Bà T, ông L thanh tóan bằng tiền cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của

cụ C là phù h ợp, do vậy, không ch ấp nhận kháng cáo c ủa ông L yêu cầu chia đ ất

cho cụ C.

  • Tài sản chung trị giá 1.059.490.000đ : 4 ph ần = 264.872.500đ/phần. Ông

L, bà T mỗi người được hưởng một phần có giá tr ị là 264.872.500đ, c ụ C hưởng

hai phần có giá trị là 529.745.000đ.

  • Tòa án c ấp sơ th ẩm giao cho ông L sở hữu, sử dụng tài s ản gồm: 100m2

đất ở x 3.500.000đ = 350 .000.000đ; 01 nhà hai t ầng trị giá 316.800.000đ; 01 b ộ

bàn gh ế bằng g ỗ mít tr ị giá 7.200.000đ; 01 t ủ lạnh lo ại Panasonic 300 L trị giá

2.200.000đ; 01 bình nóng l ạnh Ariston 30 lít tr ị giá 1.500.000đ; 01 bình l ọc nước

lọai Panasonic tr ị giá 2.400.000đ; 01 âm ly Trung quốc trị giá 1.200.000đ; 01 k ệ

tivi gỗ tổng hợp trị giá 1.100.000đ. Tổng giá trị tài sản ông Lợi được giao sở hữu

và sừ dụng là 682.400.000đ, ông L phải thanh tóan chênh l ệch tài s ản cho nh ững

người th ừa k ế quyền nghĩa v ụ của c ụ C là 682.400.000đ – 264.872.500đ =

417.527.500đ là phù hợp.

  • Giao cho bà T sở hữu s ử dụng tài s ản g ồm 100m2 đất ở x 3.500.000 =

350.000.000đ; công trình ph ụ xây dựng nhà kho tr ị giá 18.690.000đ; 01 đi ều hòa

Panasonic lo ại 9.000PTU tr ị giá 1.900.000đ; 01 tivi sony 43 inch tr ị giá

6.500.000đ. Tổng giá trị tài sản bà T được giao sở hữu và sử dụng là 377.090.000đ,

bà T phải thanh tóan chênh l ệch tài s ản cho nh ững người thừa kế quyền nghĩa v ụ

của cụ C là 377.090.000đ – 264.872.500đ = 112.217.500đ là phù hợp.

Tổng c ộng ph ần tài s ản c ủa c ụ C được thanh tóan là 417.527.500đ +

112.217.500đ = 529.745.000đ.

[2.3] Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010

của UBND thành phố V: Như đã phân tích ở phần trên; Tại Giấy ủy quyền đất thổ

cư ngày 20/2/2001 (BL 35) c ụ C lập Giấy ủy quyền đất thổ cư có nội dung: “Tên

tôi Nguyễn Thị T 70 tuổi … còn thổ cư của ông cha từ ngày xưa, nay tôi đã già yếu,

tôi ủy quyền cho con trai tôi là Đào Văn L được quyền sử dụng đất thổ cư của cha

ông để lại”. Giấy ủy quyền của cụ C có xác nh ận của Trưởng K5 là ông Nguy ễn

Văn N với nội dung “Chứng nhận giấy ủy quyền của bà C là sự thực. Thổ cư cũ

của gia đình nay bà đã già yếu không đứng chủ hộ nữa và ủy quyền đứng chủ hộ là

Đào Văn L”; Chủ tịch UBND xã V xác nhận “Bà C có giấy ủy quyền là đúng”

Tại lời khai của ông L, biên bản xác minh (BL160), các phiên hòa giải, ông

L trình bày: Vợ chồng ông b ạc đãi c ụ C, cụ C phải mời các đòan th ể đến khuyên

giải đề cho ông L đứng tên trong Gi ấy CNQSDĐ, nếu sau này v ợ chồng ông v ẫn

bạc đãi cụ thì các cấp có thẩm quyền sẽ thu hồi lại đất trả lại cho cụ C (BL 98, 158,

220…). Ông L đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên

hộ ông Đào Văn L 26/8/2002 (BL 143).

Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên h ộ ông Đào Văn L

26/8/2002 mọi người đều đã biết, đến năm 2010 lại có quyết định giao đất tái định

cư cho hộ gia đình ông L trong đó có cả cụ C là thành viên hộ gia đình, do vậy có

căn cứ xác định đất có ngu ồn gốc của vợ chồng cụ C đã chuyển hóa cho h ộ gia

đình ông L. Ông L kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông L là tự

nguyện. Khi thu h ồi đất của hộ ông L để thực hiện dự án xây dựng Đại học Hùng

Vương, UBND thành ph ố V ban hành Q uyết đ ịnh s ố 1478/QĐ-UBND ngày

08/02/2010 giao đất tái đ ịnh cư cho h ộ ông L là đúng pháp lu ật nên yêu cầu hủy

Quyết đ ịnh số 1478/QĐ-UBND ngày 08/02/2010 là không đư ợc ch ấp nh ận, do

vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 1478.

[2.4] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát: Cụ Nguyễn Thị C là người có

quyền lợi, nghĩa v ụ liên quan tr ong vụ án chết ngày 09/3/2021, c ụ C có 6 con là

Đào Thị X, Đào Thị V, Đào Thị Í, Đào Thị C1, Đào Văn L, Đào Văn T4 (Ông T4

chết năm 2009 có vợ là Đỗ Thị T1 và 02 con là Đào Bích N, Đào Xuân T2), án sơ

thẩm không đưa ông L và vợ con ông T4 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

của cụ C theo quy định tại khỏan 1 Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự là thiếu sót,

cần rút kinh nghiệm.

Án sơ th ẩm nh ận đ ịnh bà T được s ở hữu, qu ản lý giá tr ị tài s ản là

377.090.000 đồng nhưng phần quyết định lại ghi là 376.490.000 đ ồng là thiếu sót

do ghi không đúng giá tr ị chiếc điều hòa Panasonic lo ại 9000PTU đư ợc định giá

1.900.000 đồng, không phải 1.300.000 đồng.

Án sơ th ẩm tính án phí chia tài s ản không đúng v ới phần giá tr ị tài sản mà

ông L, bà T được hưởng theo quy định của pháp luật cần rút kinh nghiệm.

Như vậy kháng ngh ị của Viện kiểm sát là có căn c ứ nên Hội đồng xét x ử

chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo nội dung kháng

nghị là phù hợp.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Tòa án cấp sơ

thẩm đã th ụ lý giải quyết vụ án đúng th ẩm quyền, việc chia tài s ản phù hợp quy

định của pháp luật, tuy nhiên có m ột số thiếu sót như n ội dung của kháng nghị đã

nêu. Tại cấp phúc th ẩm không có tình ti ết mới làm thay đ ổi bản chất vụ án nên

không có căn c ứ chấp nhận kháng cáo c ủa đương s ự, có căn c ứ chấp nhận kháng

nghị của Viện kiểm sát nhân dân t ỉnh Phú Thọ như đã phân tích ở trên và sửa bản

án sơ th ẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc th ẩm là phù

hợp.

[4] Về án phí dân s ự phúc thẩm: Do kháng cáo không đư ợc chấp nhận nên

các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án dân sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khỏan 1 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn L, bà Đào Thị X, Đào Thị V,

Đào Thị Í, Đào Thị C1, Đỗ Thị T1, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân

dân t ỉnh Phú Th ọ, s ửa quy ết đ ịnh c ủa B ản án s ố 55/2021/HNGĐ-ST ngày

20/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ:

Căn cứ khỏan 1 Điều 28, khỏan 4 Điều 34, khỏan 4 Điều 147 của Bộ luật Tố

tụng dân s ự, Điều 59, các Điều 60, 61, 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị

quyết s ố 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 c ủa Ủy ban Thư ờng v ụ Quốc

Hội;

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T.

  • Xác đ ịnh khối tài s ản gồm: 200m 2 đất ở x 3.500.000đ = 700.000.000đ,

thửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; 01

nhà hai tầng xây dựng trên diện tích đất là 100m 2 trị giá 316.800.000đ; 01 bộ bàn

ghế bằng g ồ mít tr ị giá 7.200.000đ; 01 t ủ lạnh lo ại Panasonic 300L tr ị giá

2.200.000đ; 01 bình nóng l ạnh Ariston 30 lít tr ị giá 1.500.000đ; 01 bình l ọc nước

lọai Panasonic tr ị giá 2.400.000đ; 01 âm ly Trung quốc trị giá 1.200.000đ; 01 k ệ

tivi gỗ tổng hợp trị giá 1.100.000đ; Công trình phụ, nhà kho trị giá 18.690.000đ; 01

điều hòa Panasonic lo ại 9.000PTU trị giá 1.900.000đ; 01 tivi sony 43inch tr ị giá

6.500.000đ. Tổng giá tr ị tài sản là 1.059.490.000đ là tài s ản chung c ủa ông Đào

Văn L, bà Lê Thị T, cụ Nguyễn Thị C.

  • Chia tài sản như sau:

2. Giao cho ông Đào Văn L được sở hữu và sử dụng tài sản gồm: 100m2 đất

ở = 350.000.000đ, thửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành phố V,

tỉnh Phú Th ọ; 01 nhà hai t ầng xây d ựng trên di ện tích đ ất là 100m 2 trị giá

316.800.000đ, có chỉ giới 1,2,6,7,1 (có sơ đồ kèm theo); 01 bộ bàn ghế bằng gỗ mít

trị giá 7.200.000đ; 01 tủ lạnh lọai Panasonic 300L trị giá 2.200.000đ; 01 bình nóng

lạnh Ariston 30 lít tr ị giá 1.500.000đ; 01 bình l ọc nư ớc lo ại Panasonic tr ị giá

2.400.000đ; 01 âm ly Trung quốc trị giá 1.200.000đ; 01 kệ tivi gỗ tổng hợp trị giá

1.100.000đ. Tổng giá trị tài sản là 682.400.000đ (Sáu trăm tám mươi hai tri ệu bốn

trăm nghìn đồng). Ông L phải tự xử lý cắt bỏ đọan đường ống nhựa nước thải chảy

từ (phần đất giao cho bà T ) chảy vào bể bi ô ga. Ông L có quyền yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đ ịnh của pháp

luật.

3. Giao cho bà Lê Thị T được sở hữu và sử dụng tài sản gồm: 100m2 đất ở =

350.000.000đ, thửa đất số 81, tờ bản đồ số 39 tại K5, phường V, thành phố V, tỉnh

Phú Th ọ; Công trình ph ụ xây d ựng, nhà kho trên di ện tích đ ất 100m 2 trị giá

18.690.000đ, có chỉ giới 2,3,4,5,6,10,2 (có sơ đồ kèm theo); 01 điều hòa Panasonic

lọai 9.000PTU trị giá 1.900.000đ; 01 tivi sony 43 inch trị giá 6.500.000đ. Tổng giá

trị tài s ản là 377.090.000đ (Ba trăm b ẩy mươi bẩy triệu không trăm chín mươi

nghìn đồng). (Máy điều hòa + ti vi ông L ợi đang quản lý có trách nhi ệm giao cho

bà T). Bà T có quyền yêu cầu cơ quan có th ẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

4. Ông Đào Văn L phải thanh tóan ti ền chênh lệch tài sản cho những người

kể thừa quyền nghĩa v ụ của cụ C là 417.527.500đ (Bốn trăm mư ời bẩy triệu năm

trăm hai bẩy nghìn năm trăm đồng).

5. Bà Lê Th ị T phải thanh tóan chênh l ệch tài sản cho những người kế thừa

quyền nghĩa vụ của cụ C là 112.217.500đ (Một trăm mười hai triệu hai trăm mười

bẩy nghìn năm trăm đồng).

6. Tổng cộng những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C được thanh tóan

là 529.745.000đ (Năm trăm hai mươi chín triệu bẩy trăm bốn lăm nghìn đồng).

7. Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C gồm: Bà Đào Thị X, Đào

Thị V, Đào Thị Í, Đào Thị C1, Đào Văn L, Đỗ Thị T1, Đào Bích N, Đào Xuân T2.

  • Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi người được thi hành án có

đơn yêu cầu thi hành án mà ngư ời phải thi hành án chưa tr ả hết số tiền còn phải

thi hành án thì còn phải chịu lãi suất chậm thanh tóan theo quy đ ịnh Điều 357 và

468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ ịnh tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 của

Luật Thi hành án dân s ự; Thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy đ ịnh tại

Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

8. Bác yêu c ầu của ông Đào Văn L về việc hủy Quyết đ ịnh số 1478/QĐ-

UBND ngày 08/02/2010 của UBND thành phố V.

9. Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Bà Lê Th ị T phải chịu 13.243.600 đồng án phí dân s ự sơ thẩm. Xác nhận

bà T đã nộp 19.200.000 đồng tại Biên lai thu số 0003065 ngày 13/12/2017 của Chi

cục Thi hành án dân sự thành phố V. Trả lại cho bà T 5.956.400 đồng.

+ Ông Đào Văn L phải chịu 13.243.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ C: Bà Đào Thị X, bà Đào Thị

V, ông Đào Văn L, bà Đào Thị Í, bà Đào Thị C1, bà Đỗ Thị T1, chị Đào Bích N,

anh Đào Xuân T2 phải chịu 25.189.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản.

10. Về án phí phúc th ẩm: Ông Đào Văn L , bà Đào Th ị X, Đào Thị V, Đào

Thị Í, Đào Th ị C, Đỗ Thị T1, mỗi ngư ời phải chịu 300.000 đ ồng án phí dân s ự

phúc th ẩm, đư ợc trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi

người đã nộp tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án: số

AA/2020/0000025 ngày 19/10/2021, số 0000153 ngày 09/5/2024, số 0000154

ngày 09/5/2024, số 0000155 ngày 09/5/2024, số 0000156 ngày 09/5/2024, số

0000157 ngày 09/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

11. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSNDCC tại Hà Nội;
  • TAND tỉnh Phú Thọ;
  • Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • Các đương sự (theo địa chỉ);
  • Lưu: HS, HCTP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Quang Dũng

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *