Bản án số: 403/2021/DS-PT

⚖️ ÁN LỆ TỐI CAO VIỆT NAM

Bản án số: 403/2021/DS-PT

📋 Tóm tắt lý lịch pháp lý

Mã số Án lệ Án lệ số 05/2016/AL
Ngày thông qua 2021-12-10
Cơ quan ban hành Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực xét xử Dân sự
Nguồn trích xuất gốc Cổng thông tin Án lệ Tòa án tối cao

💡 NGUYÊN TẮC ÁN LỆ (KHÁI QUÁT NỘI DUNG)

“Nội dung nguyên tắc án lệ đang được đồng bộ.”

📖 Nội dung chi tiết quyết định Án lệ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 403/2021/DS-PT

Ngày: 10/12/2021

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh

chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh

chấp về yêu cầu tuyên bố văn bản công

chứng vô hiệu và tranh chấp khác”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  • Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Hiệp

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng

Ông Chung Văn Kết

  • Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân c ấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c ấp cao t ại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 06 và 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số

360/2021/TLPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp về thừa k ế

tài sản, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn

bản công chứng vô hiệu và tranh chấp khác”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2021

của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ bị kháng nghị và kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2386/2021/QĐ-PT ngày

02 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Trần Thị NĐ , sinh năm 196 0; cư trú số 13, đường L1,

phường L2, thành phố L3, tỉnh An Giang (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền ông Lưu Ngọc T , sinh năm 1966; cư trú số

533, tổ 26, khu vực L4, phường L5, quận L5, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  • Bị đơn: Ông Phạm Trường BĐ ,sinh năm 19 60; cư trú số 38 Avon, Ave

Jork Ont Toronto M6N 3W7, Canada; Tạm trú số 1534, khu phố 1, phường L6,

quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền ông Lê Minh P, sinh năm 1998; cư trú ấp L7,

xã L8, huyện L9, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn : Luật sư ông Phan

Mạnh T2, sinh năm 1989; cư trú số 67, đường X1, phường X2, quận 1, Thành

phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị NLQ1, sinh năm 1938; cư trú khu vực L6 1, phường Thạnh

Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

2. Bà Trần Thị NLQ2 , sinh năm 1944; cư trú số 336/20, đường Phan Văn

Trị, phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3. Bà Trần Thị NLQ3 , sinh năm 1949; cư trú số 13509 Nichols Dr

Clarksville ho Md 21029USA (vắng mặt)

4. Bà Trần Th ị Mỹ NLQ4 , sinh năm 1956; cư trú khu vực L6 1, phường

Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

5. Ông Trần Thượng NLQ5 , sinh năm 1959; cư trú khu vực L6 1, phường

Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Trần Thị NLQ1, bà Trần Thị NLQ2,

bà Trần Thị NLQ3 , bà Trần Thị Mỹ NLQ4 , ông Trần Thượng NLQ5 là ông

Trần Văn U, sinh năm 1967; cư trú khu vực L6 1, phường Thạnh Hòa, quận L5,

thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

6. Ông Trần Văn U , sinh năm năm 1967; cư trú số 15/16, khu vực L6 1,

phường Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

7. Công ty X. Trụ sở tại khu vực L6 1, phường Thạnh Hòa, quận L5, thành

phố Cần Thơ (vắng mặt).

8. Văn phòng Công chứng Đ . Trụ sở tại đường X3, khu vực L4, phường

L5, quận L5, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

  • Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Người kháng cáo: nguyên đơn bà Trần Thị NĐ, bị đơn ông Phạm Trường

BĐ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn U.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2018, đơn

khởi kiện bổ sung ngày 25/8/2020 và trong quá trình tố tụng như sau:

Nguyên đơn là chị ruột và cũng là người thừa kế theo di chúc duy nhất của

bà Trần Thị Mỹ H (sinh năm 1963, chết năm 2018). Cha mẹ của nguyên đơn là

cụ ông Trần Văn H1 (sinh năm 1916, chết năm 1995) và cụ bà Thái Thị P1 (sinh

năm 1921, chết năm 1998) có tất cả 10 (mười) người con gồm: bà Trần Thị

NLQ1, bà Trần Thị NLQ2, bà Trần Thị NLQ3, ông Trần Văn B (sinh năm 1949,

chết năm 2001), ông Trần Địa P2 (sinh năm 1953, chết năm 2103), bà Trần Thị

Mỹ NLQ4, ông Trần Thượng NLQ5 , bà Trần Thị NĐ , bà Trần Thị Mỹ H (sinh

năm 1963, chết năm 2018), ông Trần Văn U.

Vào ngày 21/4/2014, bà Trần Thị Mỹ H đã đến Văn phòng Công chứng L5

– nay là Văn phòng Công chứng Đ – lập di chúc để lại tất cả tài sản cho nguyên

đơn gồm:

Quyền sử dụng đất thửa đất số 1130 (diện tích 250m 2; trong đó có 100m 2

lọai đất thổ cư, 150m2 lọai đất ruộng); quyền sử dụng thửa đất số 1131 (diện tích

250m2; trong đó có 100m2 lọai đất thổ cư, 150m2 lọai đất ruộng). Hai thửa đất số

1130 và 1131 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do Ủy ban

nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 03/5/2002. Trên 02 (hai) thửa đất

này có nhà kho lọai bán kiên cố, mái tole, vách tường gạch – tole, khung cốt

thép, nền bê tông cốt thép với tổng diện tích xây dựng là 136,8m2.

Quyền sử dụng đất thửa đất số 311 (diện tích 208m 2, lọai đất ruộng); quyền

sử dụng thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong đó có 50m2 lọai đất thổ cư, 40m2

lọai đất ruộng). Hai thửa đất này thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ t số

00141 do Ủy ban nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 20/01/2003; ngày

07/5/2004, Ủy ban nhân dân quận L5, thành phố Cần Thơ cấp đổi thành giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất số 00350. Trên 02 (hai) thửa đất này có 01 căn

nhà cùng vật kiến trúc trên đất và cây lâu năm.

Hiện nay, phía bị đơn đang quản lý, sử dụng 02 thửa đất số 311 (diện tích

208m2, lọai đất ruộng) và thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong đó có 50m 2

lọai đất thổ cư, 40m 2 lọai đất ruộng) cùng tòan bộ các giấy chứng nhận qu yền sử

dụng đất (bản chính).

Nay, nguyên đơn yêu cầu được công nhận nguyên đơn là người thừa kế

theo di chúc của bà Trần Thị Mỹ H , yêu cầu bị đơn giao trả lại 02 thửa đất số

311 (diện tích 208m 2, lọai đất ruộng) và thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong

đó có 50m 2 lọai đất thổ cư, 40m 2 lọai đất ruộng), 01 căn nhà cùng vật kiến trúc

trên đất và cây lâu năm cùng tòan bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

(bản chính). Nguyên đơn sẽ hỗ trợ cho bị đơn chi phí di dời chỗ ở số tiền là

50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Phần trình bày của bị đơn theo đơn phản tố ngày 26/5/2020:

Bị đơn là chồng của bà Trần Thị Mỹ H , hai người bắt đầu sống chung từ

năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp Thành phố Cần Thơ vào ngày

29/4/2014. Trước khi sống chung, bị đơn có giao tiền để bà Mỹ H xây dựng căn

nhà trên hai thửa đất số 311 và 1216.

Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà Mỹ H đã bị

suy giảm sức khỏe từ năm 2012 do bệnh ung thư nên không đủ tỉnh táo để lập di

chúc và chữ ký trong di chúc không phải là chữ ký trong tờ khai đăng ký kết

hôn.

Với các lý do trên, yêu cầu hủy di chúc do bà Mỹ H lập ngày 22/4/2014 tại

Văn phòng Công chứng L5, thành phố Cần Thơ và công nhận tòan bộ khối tài

sản tranh chấp thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bị đơn.

Phần trình bày của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị NLQ1, bà Trần Thị NLQ2, bà Trần Thị NLQ3, bà Trần Thị Mỹ

NLQ4, ông Trần Thượng NLQ5 , ông Trần Văn U : Thống nhất phần trình bày

của nguyên đơn và không có tranh chấp về tài sản thừa kế, tôn trọng di nguyện

của bà Trần Thị Mỹ H đối với di sản của bà H theo di chúc lập ngày 22/4/2014

tại Văn phòng Công chứng L5, thành phố Cần Thơ.

Công ty X (sau đây gọi tắt là Công ty X):

Vào ngày 25/6/2018, Công ty X có ký hợp đồng thuê nhà xưởng và kho (để

dự trữ lúa gạo) thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Mỹ H tại thửa đất số

1130, 1131, diện tích 700m 2, thuộc tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất số 00292 do Ủy ban nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày

03/5/2002 – đất tọa lạc tại khu vực L6 1, phường Thạnh Hòa, quận L5, thành

phố Cần Thơ. Thời hạn thuê từ 12/6/2018 đến 12/6/20 23 (05 năm) với giá thuê

là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng). Công ty X không có ý kiến và yêu

cầu độc lập đối với tranh c hấp giữa nguyên đơn và bị đơn. Khi nào hết thời hạn

thuê, Công ty sẽ giao trả lại tài sản thuê cho người thừa kế hợ p pháp của bà Trần

Thị Mỹ H . Do họat động kinh doanh, Công ty X xin được vắng mặt trong suốt

quá trình tố tụng và đề nghị được nhận Bản án hoặc Quyết định sơ thẩm theo

quy định.

Văn phòng Công chứng Đ:

Theo hồ sơ lưu trữ số công chứng 2294, quyển số 03/2014/TP/CC –

SCC/HĐGD của Văn phòng thì vào ngày 21/4/2014, bà Trần Thị Mỹ H đã đến

Văn phòng Công chứng L5 – nay là Văn phòng Công chứng Đ – lập di chúc để

lại tất cả tài sản cho nguyên đơn bà Trần Thị NĐ gồm:

Quyền sử dụng đất thửa đất số 1130 (diện tích 250m 2; trong đó có 100m 2

lọai đất thổ cư, 150m 2 lọai đất ruộng) và thửa đất số 1131 (diện tích 250m 2;

trong đó có 100m 2 lọai đất thổ cư, 150m 2 lọai đất ruộng) theo giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số 00292 d o Ủy ban nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp

ngày 03/5/2002. Trên 02 (hai) thửa đất này có nhà kho lọai bán kiên cố, mái

tole, vách tường gạch – tole, khung cốt thép, nền bê tông cốt thép với tổng diện

tích xây dựng là 136,8m2.

Quyền sử dụng đất thửa đất số 311 (diện tích 208m 2, lọai đất ruộng) và

thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong đó có 50m 2 lọai đất thổ cư, 40m 2 lọai đất

ruộng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00141 do Ủy ban nhân dân

huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 20/01/2003.

Quy trình thực hiện công chứng di chúc của bà Trần Thị Mỹ H đều thực

hiện đúng theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS -ST ngày 12 tháng 4 năm 2021

của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị NĐ.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Trường BĐ.

Công nhận Di chúc do bà Trần Thị Mỹ H lập ngày 21/4/2014 tại Văn

phòng Công chứng L5, thành phố Cần Thơ là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Trần Thị NĐ là người được hưởng tòan bộ di sản theo di

chúc của bà Trần Thị Mỹ H gồm:

Quyền sử dụng đất thửa đất số 1130 (diện tích 250m 2, trong đó có 100m 2

lọai đất cơ sở sản xuất kinh doanh, 150m 2 lọai đất ruộng) và thửa đất số 1131

(diện tích 250m 2, trong đó có 100m 2 lọai đất cơ sở sản xuất kinh doanh, 150m 2

lọai đất ruộng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do Ủy ban

nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 03/5/2002; trên 02 (hai) thửa đất này

có nhà kho lọai bán ki ên cố, mái tole, vách tường gạch – tole, khung cốt thép,

nền bê tông cốt thép với tổng diện tích xây dựng là 136,8m 2;

Quyền sử dụng đất thửa đất số 311 (diện tích 208m 2, lọai đất ruộng) và

thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong đó có 50m 2 lọai đất thổ cư, 40m2 lọai đất

ruộng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00141 do Ủy ban nhân dân

huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 20/01/2003.

Qua đo đạc hiện trạng, 02 (hai) thửa đất số 1130 và 1131 có tổng diện tích

là 749,8m2 (trong đó có 56,8m2 diện tích đất trong hành lang lộ giới, có 152,8m 2

diện tích đất trong hành lang an tòan sông), diện tích nhà kho là 611,9m 2 và 02

(hai) thửa đất số 311 và 1216 có tổng diện tích đất là 343,9m 2 (kèm theo Bản

trích đo địa chính số 22/TTKTTNMT và số 23/TTKTTNMT cùng ng ày 25/3/2020

của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi

trường thành phố Cần Thơ).

Nguyên đơn bà Trần Thị NĐ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm

thủ tục điều chỉnh người có quyền sử dụng đất và tài sản trên đất t heo quyết định

của Bản án này.

Nguyên đơn bà Trần Thị NĐ thực hiện việc hòan lại giá trị căn nhà trên hai

thửa đất số 311 và 1216 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00141 do

Ủy ban nhân dân huyện L5, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 20/01/2003 cho bị đơn ông

Phạm Trường BĐ số tiền tương ứng là 380.507.018 đồng (ba trăm tám mươi

triệu năm trăm lẻ bảy ngàn không trăm mười tám đồng) . Khi nào thực hiện việc

hòan giá trị xong thì được quyền sở hữu căn nhà.

Ngòai ra, bản án còn quyết đ ịnh về án phí sơ thẩm và thông báo về quyền

kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/5/2021 , Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 30/QĐKNPT-VKS-DS về việc kháng

nghị bản án sơ th ẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản

án sơ thẩm theo hướng:

Xác định căn nhà và vật kiến trúc trên hai thửa đất số 311 và 1216 là tài sản

chung của bà H, ông BĐ. Bà Trần Thị NĐ được sở hữu ½ số tài sản này và hòan

bằng giá trị cho ông BĐ là 190.53.509 đồng.

Bổ sung vào phần quyết định của Bản án sơ thẩm “về án phí sơ thẩm”, nội

dung: Hòan lại cho bà Trần Thị NĐ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền

10.095.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí của Tòa án số 0043 79

ngày 17/12/2018 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Cùng ngày 26/4/2021, nguyên đơn bà Trần Thị NĐ và người có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn U kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề

nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho bà NĐ được thừa kế căn nhà chính và các

tài sản khác tọa lạc trên hai thửa đất số 311 và 1216.

Ngày 27/4/2021, ông Phạm Trường BĐ có đơn kháng cáo một phần bản án

sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị

đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn bà Trần Thị NĐ có người đại diện theo ủy quyền là ông Lưu

Ngọc T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng là đại diện theo ủy

quyền cho bà Trần Thị NLQ1 , bà Trần Thị NLQ2 , bà Trần Thị NLQ3 , bà Trần

Thị Mỹ NLQ4 , ông Trần Th ượng NLQ5 là ông Trần Văn U thống nhất trình

bày:

Đồng ý nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, do đó thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội

đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị và kháng cáo của bà NĐ, ông U,

sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng x ác định căn nhà và vật kiến trúc trên

hai thửa đất số 311 và 1216 là tài sản chung của bà H, ông BĐ. Bà Trần Thị NĐ

được sở hữu ½ số tài sản này và hòan bằng giá trị cho ông BĐ là 190.53.509

đồng.

Bị đơn ô ng Phạm Trường BĐ có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê

Minh P trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng nghị

của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M inh và

kháng cáo của bà NĐ, ông U; chấp nhận kháng cáo cũng như tòan bộ yêu cầu

phản tố của bị đơn, hủy di chúc do bà Mỹ H lập ngày 22/4/2014, công nhận tòan

bộ khối tài sản tranh chấp thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bị đơn ; đồng thời

áp dụng Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối

cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 để tính công sức giữ gìn của ông BĐ

là 200 triệu đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình

bày quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của

pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định

pháp luật.

Về nội dung:

Nội dung của Quyết định kháng nghị nêu lên những vi phạm của Tòa án

cấp sơ thẩm là có căn cứ. Qua phần thẩm vấn, kiểm tra chứng cứ công khai tại

phiên tòa phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không triệt để các

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện đ ược.

Hơn nữa, biên bản phiên tòa sơ thẩm không phản ánh đúng phát biểu của Kiểm

sát viên về quan điểm giải quyết vụ án, thể hiện diễn biến không khách quan tại

phiên tòa là vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến tính đúng đắn của phiên tòa sơ

thẩm.

Để bảo đảm việc giải quyết vụ án được tòan diện cũng như tính khả thi của

việc thi hành án sau này, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy tòan bộ

bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo

đúng qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét

kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ

Chí Minh và kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị NĐ , bị đơn ông Phạm

Trường BĐ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn U:

[1] Về xét xử vắng mặt của đương sự, luật sư tại phiên tòa phúc thẩm:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty X (bút lục số 146) có đơn

đề nghị vắng mặt trong s uốt quá trình tham gia tố tụng; Văn phòng Công chứng

Đ có đơn đề ngày 11/11/2021 xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị

đơn đồng ý xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là Luật sư

Phan Mạnh T2 . Căn cứ điểm đ khỏan 2 Điều 227, khỏan 2 Điều 296 Bộ luật Tố

tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những người

tham gia tố tụng trên.

[2] Về quan hệ tranh chấp:

Xét thấy nguyên đơn yêu cầu công nhận di chúc, yêu cầu công nhận các tài

sản theo di chúc và yêu cầu công nhận các tài sản nằm ngòai di chúc là tài sản

thuộc sở hữu của bà H. Đây là tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp về

quyền sở hữu tài sản. Đối với yêu cầu buộc bị đơn bàn giao các tài sản tranh

chấp là yêu cầu khác được quy định tại khỏan 14 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu hủy di chúc đã được công chứng vì cho

rằng di chúc này bị làm giả và bà H không đủ điều kiện lập di ch úc tại thời điểm

đó. Đây là tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô

hiệu. Đối với yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận tài sản tranh chấp thuộc sở hữu

của bị đơn là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án này bao gồm: Tranh chấp về thừa kế

tài sản, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về yêu cầu tuyên bố văn

bản công chứng vô hiệu và tranh chấp khác theo quy định tại khỏan 2, khỏan 5,

khỏan 11 và khỏan 14 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự . Tòa án cấp sơ thẩm

chỉ nhận định tranh chấp về thừa kế tài sản là không đúng quy định pháp luật.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo nội dung đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trình bày tại phiên

tòa thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn giao trả lại 02 thửa đất số 311 (diện tích

208m2, lọai đất ruộng) và thửa đất số 1216 (diện tích 90m 2, trong đó có 50m 2

lọai đất thổ cư, 40m 2 lọai đất ruộng), 01 căn nhà cùng vật kiến trúc trên đất và

cây lâu năm cùng tòan bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( bản chính).

Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là giải quyết chưa đầy đủ các yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

[4] Hồ sơ vụ án thể hiện ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Cần Thơ:

Tại Bản án sơ thẩm và Bài phát biểu số 180/PB -VKS-DS ngày 08/4/2021

của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ thì đại diện Viện kiểm sát đề

nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cần khởi kiện của nguyên đơn về việc công

nhận di chúc của bà H và các tài sản tranh chấp trong vụ án là di sản của bà H.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tuy nhiên, tại Biên bản Phiên tòa sơ thẩm bút lục 369 thì đại diện Viện

kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử công nhận tòan bộ tài sản trên thửa đất số

1130 và 1131 là của bị đơn và hủy di chúc của bà H.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm phận thấy có sự mâu thuẫn trong phần phát

biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp sơ thẩm.

[5] Đối với việc giải quyết tài sản là căn nhà tại thửa đất 311, 1216:

Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: “… có nghĩa rằng, chính bà Mỹ H đã

ngầm thừa nhận căn nhà trên thửa 11 và 1216 không phải là tài sản của bà. Bị

đơn trình bày là do chính bị đơn đưa tiền cho bà Mỹ H xây nhà, tuy không có

chứng cứ trực tiếp nhưng lại có chứng cứ gián tiếp là việc lọai trừ tài sản trong

di chúc của bà Mỹ H. Bị đơn không phải là vợ chồng hợp pháp nên tài sản của

ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó… ”. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định

giá trị căn nhà này của bị đơn là khôn g chặt chẽ và không khách quan , mà cần

thu thập tài liệu, chứng cứ để xá c định tài sản riêng hoặc tài sản chung của nam,

nữ sống chung với nhau như vợ chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân

và gia đình và pháp luật dân sự.

[6] Về xem xét công sức của bị đơn:

Bà Trần Thị Mỹ H chết từ năm 2018 nhưng Tòa án không xem x ét việc

trông coi, giữ gìn, bảo quản di sản để xem xét đến công sức của người trực tiếp

quản lý di sản là ông BĐ là không giải quyết tòan diện vụ án.

[7] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

[7.1] Tại “Đơn đề nghị v/v xin miễn tạm ứng, án phí , lệ phí Tòa án” của

ông Phạm Trường BĐ (bút lục số 333) và “Đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án

phí và án phí” của bà Trần Thị NĐ (bút lục số 331) đều xin được miễn nộp tạm

ứng án phí với lý do là người cao tuổi. Căn cứ khỏan 1 Điều 14 của Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì

người đề nghị được miễn tạm ứng án phí, án phí Tòa án thuộc trường hợp được

miễn nộp tại Điều 12 của nghị quyết này , Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đề nghị

miễn án phí cho bà NĐ , ông BĐ là phù hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm

không hòan lại cho người đề nghị số tiền tạm ứng án phí đã nộp là vi phạm thủ

tục tố tụng.

[7.2] Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm có nhận định về chi phí đo đạc, thẩm

định, về chi phí giám định, nhưng phần quyết định củ a bản án sơ thẩm lại không

tuyên xử nội dung này là không đầy đủ như qui định tại điểm c Khỏan 2 Điều

266 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án

cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh , cũng như vi phạm

nghiêm trọng thủ tục tố tụng, mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục

bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng

nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ,

một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị NĐ, bị đơn ông Phạm Trường

BĐ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn U ; hủy tòan bộ

bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án

theo đúng thủ tục pháp luật.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi

giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Do Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự

kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khỏan 3 Điều 148, khỏan 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015:

Tuyên xử :

1. Chấp nhận một phần kháng nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh , một phần kháng cáo của nguyên đơn bà

Trần Thị NĐ , bị đơn ông Phạm Trường BĐ và người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan ông Trần Văn U.

2. Hủy tòan bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2021/DS -ST ngày 12 tháng 4

năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về việc “ Tranh chấp về thừa

kế tài sản, tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về yêu cầu tuyên bố

văn bản công chứng vô hiệu” giữa:

  • Nguyên đơn: Bà Trần Thị NĐ , sinh năm 1960; cư trú số 13, đường L1,

phường L2, thành phố L3, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền ông Lưu Ngọc T , sinh năm 1966; cư trú số

533, tổ 26, khu vực L4, phường L5, quận L5, thành phố Cần Thơ.

  • Bị đơn: Ông Phạm Trường BĐ , sinh năm 1960; cư trú số 38 Avon, Ave

Jork Ont Toronto M6N 3W7, Canada; Tạm trú số 1534, khu phố 1, phường L6,

quận L5, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền ông Lê Minh P, sinh năm 1998; cư trú ấp L7,

xã L8, huyện L9, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn : Luật sư ông Phan

Mạnh T2, sinh năm 1989; cư trú số 67, đường X1, phường X2, quận 1, Thành

phố Hồ Chí Minh.

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị NLQ1, sinh năm 1938; cư trú khu vực L6 1, phường Thạnh

Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ.

2. Bà Trần Thị NLQ2 , sinh năm 1944; cư trú số 336/20, đường Phan Văn

Trị, phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Bà Trần Thị NLQ3 , sinh năm 1949; cư trú số 13509 Nichols Dr

Clarksville ho Md 21029USA.

4. Bà Trần Thị Mỹ NLQ4 , sinh năm 1956; cư trú khu vực L6 1, phường

Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ.

5. Ông Trần Thượng NLQ5 , sinh năm 1959; cư trú khu vực L6 1, phường

Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Trần Thị NLQ1, bà Trần Thị NLQ2,

bà Trần Thị NLQ3 , bà Trần Thị Mỹ NLQ4 , ông Trần Thượng NLQ5 là ông

Trần Văn U, sinh năm 1967; cư trú khu vực L6 1, phường Thạnh Hòa, quận L5,

thành phố Cần Thơ.

6. Ông Trần Văn U , sinh năm năm 1967; cư trú số 15/16, khu vực L6 1,

phường Thạnh Hòa, quận L5, thành phố Cần Thơ.

7. Công ty X. Trụ sở tại khu vực L6 1, phường Thạnh Hòa, quận L5, thành

phố Cần Thơ.

8. Văn phòng Công chứng Đ . Trụ sở tại đường X3, khu vực L4, phường

L5, quận L5, thành phố Cần Thơ

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại

vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi giải

quyết sơ thẩm lại vụ án.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Trần Thị NĐ , ông Phạm Trường BĐ và ông Trần Văn U không phải

chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hòan lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho

ông Trần Văn U, bà Trần Thị NĐ, mỗi người 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo

Biên lai thu số 000277, số 000276 cùng ngày 26/4/2021 của Cục thi hành án dân

sự thành phố Cần Thơ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Hồng Chung Văn Kết Trần Thị Hòa Hiệp

⚖️ Bạn cần áp dụng Án lệ này vào vụ việc thực tế?

Hội đồng Luật sư chuyên môn tại AiLuatSu.com sẽ hỗ trợ phân tích tình huống pháp lý của bạn để đảm bảo áp dụng Án lệ chính xác trước Tòa án.

📞 Liên hệ Luật sư Tư vấn Án Lệ

⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung văn bản Án lệ trên được hệ thống số hóa của AiLuatSu.com trích xuất từ dữ liệu công bố chính thức của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam nhằm phục vụ học tập, nghiên cứu và phổ biến kiến thức pháp luật cho cộng đồng. Để có văn bản áp dụng chính xác nhất, người dùng nên đối chiếu với bản in công báo chính thức hoặc tài liệu được ban hành hợp pháp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *